Thứ Ba - ngày 21/5/2013 - 07:05:37

Chiều Tưởng Niệm, Chúa Nhật ngày 30 tháng 6 năm 2013

Văn Thơ Lạc Việt trân trọng kính mời quí vị tham dự chiều thơ nhạc, tưởng niệm những vị nhà văn, thơ cố vấn và thành viên đã qua đời năm 2012. Nhà thơ Hà Thượng Nhân, Bình luận gia Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh, Nữ sĩ Trùng Quang, và nhà thơ Hà Ly Mạc. Tại trường Trung Học Yerba Buera. 1855 Lucretia. San Jose, CA 95122. Thời gian 1:30 PM chiều Chúa Nhật.

Nguyễn Vạn Bình : Mẹ Tôi

Ngày Hiền Mẫu hay Ngày Của Mẹ (tiếng Anh: Mother's Day) được tổ chức hằng năm vào ngày Chủ Nhật thứ nhì của tháng 5. Năm nay -2013- là năm đầu tiên, anh em chúng tôi cùng nhau thực hiện Slideshow “MẸ TÔI”, coi như Bó Hoa dâng kính các Đấng Sinh Thành.

May 12, 2013 ngày nhớ mẹ : MẸ ƠI...!

Những bài thơ về Mẹ trích từ tuyển tập : Lời Tình Buồn, Nỗi Đau Dài, Khắc Khoải, Bơ Vơ, Đôi Mắt.

Những vần thơ tháng Tư

Năm tháng vẫn trôi qua
Không quên được một ngày
Ba mươi Tháng Tư Đen
Bảy lăm năm ghi nhớ

Những tác phẩm nhiếp ảnh của nhà thơ Hương Kiều Loan

Nhân trong một diễn đàn, có người quen post lên một hình hoa Mãn Đỉnh Hồng, cũng còn có tên là Mạc Đỉnh Hồng nữa, tôi chợt nhớ ra mấy bức ảnh đã chụp loại hoa này năm trước trong Botanica Garden của KS, nơi tôi thường đi...săn...hoa....

Sơ lược về Văn Thơ Lạc Việt và lời cám ơn.

Như quí vị đã biết Văn Thơ Lạc Việt là hội đã có chiều dài hoạt động trong thời gian hơn 20 năm bắt đầu với năm vị nhà văn, nhà thơ :Hà Thượng Nhân, Chu Toàn Chung, Hoàng Anh Tuấn, Thượng Quân, và Dương Huệ Anh. Tôi là người tiếp sau cựu chủ tịch nhà thơ Đông Anh, ông bây giờ là cố vấn trực tiếp cho Văn Thơ Lạc Việt.

Tháng Ba, Ngày giỗ em.

Tháng Ba ta lại ... giỗ em
Lòng rưng rưng khóc giọt mềm lá rơi
Tháng Ba nguyệt vọng lưng trời
Hồn hoang gió hú chơi vơi đại ngàn
Tháng Ba em chết vội vàng

Hoa Kỳ tiết lộ vụ Hoàng Sa

Chính phủ Hoa Kỳ đã cho tiết lộ hai tài liệu mật liên quan đến quan điểm của Hoa Kỳ về Hoàng Sa và Trường Sa, đó là biên bản hai cuộc họp về vấn đề Ðông Dương ngày 25/1/1974 và ngày 31/1/1974 do ngoại trưởng Henry Kissinger chủ trì.

Những vần thơ tháng tư

AUDIO: ĐẠI TÁ VIỆT CỘNG ĐÀO VĂN NGHỆ TIẾT LỘ NHIỀU CHUYỆN ĐỘNG TRỜI VỀ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (Mời nghe chớ bỏ qua).

Những bài thơ Tháng Tư

Kính chào Qúy Văn Thi Hữu.
Hôm nay vào tháng Tư, Nhớ lại tháng Tư năm 1975, lúc đó qúy vị đang làm gì và ở đâu? Khi nhớ lại chắc qúy vị cũng ghi lại những hình ảnh, những kỷ niệm bằng những vần thơ.
Xin qúy vị gửi về trang Thơ Tháng Tư này để chia xẻ kỷ niệm cho các bạn thơ khác cùng đọc, cùng chia xẻ nỗi quan hoài.

Dân Làm Báo : Ghê Sợ Trong Cung Đình Vẹm: Phạm Gia Liên – Bà “hoàng” không ngai

Trong lịch sử đã có nhiều tấm gương xấu về việc các bà vợ lộng hành, lộng quyền, kể cả vợ vua. Vua để vợ lộng quyền thì mất nước. Hiện tại ở Bộ Công An Việt Nam có bà Phạm Gia Liên – con gái của Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm và là vợ của ông Thượng tướng Nguyễn Khánh Toàn, Thứ trưởng Bộ Công An là một người đàn bà lộng ngôn, lộng quyền và lộng hành.

Boxitvn.net : 31 Tướng, Cán Bộ Lão Niên Đòi Nguyễn Tấn Dũng Từ Chức

Kiến nghị quy lỗi cho Nguyễn Tấn Dũng bao bọc cho Phạm Thanh Bình để Vinashin đốt tiền, trích:
“Ban kiểm tra đã nêu Phạm thanh Bình lộng quyền, dối trá, làm nhiều việc sai trái, làm thất thoát đến 86.000 nghìn tỷ đồng của nhà nước thì đã rõ. Theo chúng tôi Bình phải bị truy tố và xử lý theo pháp luật. Nhưng Phạm thanh Bình mới chỉ là tội phạm trực tiếp, chính Thủ tướng Nguyễn tấn Dũng

10 ngàn bản nhạc trước 1975

10 ngàn bản nhạc hay trong music album.
Mời nghe ... mệt xỉu . Tỉnh dậy nghe tiếp

Chuẩn bị nhân sự Đại hội Đảng lần thứ 11 trong căng thẳng

Trong những ngày sắp tới, dư luận có thể tiên đoán một liên minh giữa thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong chính phủ và đại tướng Phùng Quang Thanh trong quân đội để nắm quyền lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam trong đại hội đại biểu toàn quốc sắp tới.
Nguyễn Văn Huy

Tình hình Việt Nam căng thẳng với Trung Quốc

Ngày hôm nay 18 tháng 8, phía Trung Quốc đã bắt đầu động binh mở ra các cuộc tập dợt phòng không chống "máy bay địch" những hình ảnh nầy đã được công khai phổ biến trên mạng Quân Đội Nhân Dân Trung Quốc. Như vậy chúng ta thấy cả hai phía CSVN và CSTQ đang chuẩn bị cho một cuộc chiến có thể xảy ra

Phung Huynh : Phát hiện Người Heo ở trên núi thị trấn Shin Ma huyện Đinh Giang tỉnh Vân Nam -TQ

Phát hiện Người Heo ở trên núi thị trấn Shin Ma huyện Đinh Giang tỉnh Vân Nam -TQ KHỦNG KHIẾP QUÁ !
Không có chuyện không kỳ quái trên the gioi, ngày 10 tháng 03 năm 2010 có một ông cụ tên là Thạch Lão Nhị, là người hái thuốc tại khu rừng núi ờ thị trấn Shin Ma phát hiện ra một đàn người heo.

TIÊN TRI VŨ TRỤ TRẦN DẦN TIÊN ĐOÁN VIỆT NAM SẼ THAY ĐỔI RẤT NHANH ÍT ĐỔ MÁU,

"Nhà Tiên Tri Vũ Trụ" và xưng là "Sứ Giả của God & Jesus" có tên thật là TRẦN DẦN, sinh ngày 24-02-1950 Dương Lịch lúc 5:00 giờ sáng, tức đúng giữa Giờ DẦN, Ngày DẦN, Tháng DẦN, Năm CANH DẦN (Giờ Dần (4:00AM - 6:00AM), ngày 06 tháng Giêng năm Canh Dần). Ông tên là Dần và ngày tháng năm sinh, giờ sinh của ông đều là Dần cả nên ông có tới “Ngũ Hổ” (5 con Cọp).

Vợ của LM Phan Khắc Từ tuyên bố

Được hỏi về vụ Đức Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt bị tống xuất ra nước ngoài...Bà Tư Liên úp mở: " Những ai chống lại Đảng, chống lại nhân dân thì đều có chung một số phận như thế "
( Bản tin của một Giáo dân, Giáo xứ Vườn Xoài gửi cho Điện báo http://www.haingoai phiemdam. com/

35 Năm Mở Mang Bờ Cõi

Last Fourth of July at Mass I was touched firsthand by the patriotism and gratitude of these people. That day an elderly Vietnamese grandfather with his three grandsons sat next to me. Each wore a red tie, white shirt and blue pants. They were proud to be Americans.Thank you, God bless you, we appreciate you.

Hồ Sơ Tội Ác Của Hồ Chí Minh Và Đảng Cộng Sản Việt Nam

Sau ngày cưỡng chiếm hoàn toàn miền nam năm 1975, Bộ Chính Trị Ban Chấp Hành Trung Ương đảng cộng sản Việt nam ra sức tuyên truyền các địa phương xóa bỏ hết mọi dấu vết tội ác của cộng sản đối với đồng bào và quân cán chính Việt nam cộng hòa, như phá hủy các nghĩa trang quân đội của miền nam, giải tỏa toàn bộ khu nghĩa trang Ba đồn cùng Đài

Flash Ebooks

Kellynguyen

Cẩm Vân

thằng mõ

Long Nguyen

Ý Dân

Tin Việt News

Phu Nu Cali

Việt Dương Nhân

Tu Do Ngon Luan

Vườn Tao Ngộ

NS Pham Manh Dat

Mạnh Thường Quân

Jennysbeauty

Văn Thơ Lạc Việt

TỔ CHỨC CỘNG SẢN TRONG GIỚI HỌC SINH, SINH VIÊN SÀI GÒN TRƯỚC 1975

Chuyên mục: Tham luậnCập nhật 11 tháng trước

FavoritesThích nội dung nàyFeedbackPhản hồiPrintIn nội dung

Hiện nay, chắc chắn Cộng sản Việt Nam đã cài xong mạng lưới tình báo chiến lược tại hải ngoại và họ đang vận hành mạng lưới đó tại khắp nơi có cộng đồng người Việt cư ngụ. Mặc dù mắt dân thường không thấy, nhưng mạng lưới tình báo chính trị chiến lược này của CSVN tại hải ngoại vẫn là một sự thật hiển nhiên.

SƠ LƯỢC TỔ CHỨC CỘNG SẢN TRONG GIỚI HỌC SINH, SINH VIÊN SÀI GÒN TRƯỚC 1975

&

CÁC CÁN BỘ CỐT CÁN CỦA NHỮNG TỔ CHỨC NÀY

                                                                   *Bạch Diện Thư Sinh

 

I. THỜI CHIẾN TRANH QUỐC - CỘNG, ĐÃ CÓ MỘT MẶT TRẬN TẠI ĐẠI HỌC

Trước 30 tháng 4 năm 1975, nhằm mục tiêu nhuộm đỏ toàn cõi đất nước Việt Nam, Cộng sản hoạt động khắp nơi, dưới mọi hình thức, mở ra nhiều mặt trận. Trong đó, có mặt trận đô thị mà mũi xung kích là lực lượng thanh niên, sinh viên, học sinh. Học đường, nhất là Đại học, thật sự đã trở thành một mặt trận.  Ngoài Huế, cũng có mặt trận Đại học hết sức sôi động, nhưng mặt trận Đại học mở ra tại Sài Gòn là quan trọng nhất vì Sài Gòn là Thủ đô, là chỗ tai mắt cho dư luận trong cả nước và cho quốc tế.

Thời Đệ Nhất Cộng Hòa, đã có tổ chức hoạt động học đường của Cộng sản, nhưng còn lẻ tẻ, yếu ớt. Những đợt đấu tranh sôi nổi của sinh viên Sài Gòn trong giai đoạn này (1963-1965) do các sinh viên quốc gia, như Lê Hữu Bôi, Nguyễn Trọng Nho… cầm đầu.  Đối tượng đấu tranh của họ nhắm vào chính quyền quốc gia! (Lê Hữu Bôi bị Cộng sản giết chết tại Huế hồi Tết Mậu Thân 1968).

Đồng thời, cũng khoảng thời gian này (1963,1964,1965), khi thấy người Mĩ và một số thành phần chính trị và tôn giáo bắt đầu có những hoạt động mưu toan khuynh loát chính quyền thì Cộng sản khôn lanh, vội kiện toàn tổ chức, rồi chớp lấy thời cơ để len lỏi vào một số Phân khoa Đại học, một số trường Trung học và tổ chức thanh niên Phật tử, từng bước gây ảnh hưởng, lèo lái và cuối cùng là nắm lấy quyền lãnh đạo các tổ chức này. Từ đó, họ liên tục mở ra các đợt tranh đấu làm rối loạn ngay tại Thủ đô Sài Gòn, gây tiếng vang rất lớn. Chỉ nguyên việc họ liên tục nắm giữ được tổ chức hợp pháp quan trọng là Tổng hội Sinh viên Sài Gòn suốt 4 nhiệm kì đã là một thành tích đáng kể (1966-67: Hồ Hữu Nhựt, 1967-68: Nguyễn Đăng Trừng, 1968-69: Nguyễn Văn Qùy, 1969-70: Huỳnh Tấn Mẫm).

Thời ấy, ngoài những cơ quan có trách nhiệm về an ninh, dân Sài Gòn nói chung, khối đa số sinh viên, học sinh ‘thầm lặng’ nói riêng, có thái độ thờ ơ lãnh đạm, không quan tâm, không tìm hiểu về những phong trào sinh viên, học sinh tranh đấu; lại càng không biết gì về hệ thống tồ chức cũng như thành phần cán bộ Cộng sản cốt cán lãnh đạo những tổ chức này. Vì thế, một số đã có cảm tình hoặc đã tiếp tay, tham gia vào những phong trào tranh đấu do các cán bộ Cộng sản kích động.

Để vãn hồi trật tự Thủ đô, lực lượng an ninh phải nhập trận. Kết quả là đã phát hiện và bắt giữ được một số khá lớn cán bộ thuộc Thành Đoàn (tức Thành Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam hay Thành Đoàn Thanh niên Nhân dân Cách mạng, nay là Thành Đoàn Thanh niên Cộng sản Thành phố Hồ Chí Minh, có nhiệm vụ vận động thanh niên nội thành và ngoại ô Sài Gòn – Gia Định ) và đã đưa một số những đối tượng này ra tòa xét xử (xin coi bài Trùm Sinh Viên Tranh Đấu Huỳnh Tấn Mẫm, Quả Chanh Bị Vắt Cho Hết Nước của Bạch Diện Thư Sinh. Motgoctroi.com, Mục Lịch sử Cận đại).

Trong số các cán bộ Thành Đoàn bị bắt, có những tên tuổi nổi tiếng trong và ngoài nước, như Huỳnh Tấn Mẫm, Chủ tịch Tổng Hội Sinh viên Sài Gòn 1969-70, Lê Văn Nuôi, Chủ tịch Tổng Đoàn Học sinh Sài Gòn 1970-71…Thật ra, những tên tuổi này lúc ấy chỉ là cấp thấp, nằm trong hệ thống mặt nổi. Những cán bộ mặt chìm cao cấp hơn, mới thực sự lãnh đạo mặt trận Đại học. Đa số họ còn nằm trong bóng tối.  Tuy nhiên, lực lượng an ninh quốc gia cũng đã vô hiệu hóa (chết, giam giữ hoặc đã từng bắt giữ) được một số cán bộ Thành Đoàn nòng cốt như: Lê Quang Vịnh, Lê Minh Quới (7 Tương, 7 Lễ), Trần Quang Cơ (8 Lượng), Hồ Hảo Hớn (3 Lực, 2 Nghị), Nguyễn Ngọc Phương (3 Triết, bí thư Đoàn ủy), Phan Chánh Tâm (5 Pha, 3 Vạn), Lê Hồng Tư (5 thợ hồ), Phan Văn Dinh (8 Bông, 9 Kế, Đoàn ủy), Dương Văn Đầy (7 Không, 3 Niên, Đoàn ủy) Trầm Khiêm (2 Lâm, Đoàn ủy), Trần Thị Ngọc Hảo (4 Tín, cán bộ điều khiển Huỳnh Tấn Mẫm), Lê Công Giàu…Tiếc thay, công lao của lực lượng an ninh kể trên chưa đem tới thành công triệt để. Qua xét xử, nhiều lần quan tòa đã thả những cán bộ Thành Đoàn Cộng sản nòng cốt ra, bởi vì luật pháp quốc gia đòi hỏi phải có thêm bằng chứng, đồng thời chính quyền lúc đó phải chịu áp lực dư luận báo chí thiên tả trong nước và quốc tế rất nặng nề. 

Đến cuối năm 1971, sau vụ Giáo sư Nguyễn Văn Bông và Sinh viên Lê Khắc Sinh Nhật bị ám sát chết, Tướng Nguyễn Khắc Bình, Tư lệnh Cảnh sát Quốc gia kiêm Đặc ủy trưởng Phủ Đặc ủy Trung ương Tình báo (Phủ ĐUTƯTB) VNCH, đã giao cho ông Nguyễn Thành Long thành lập Ban A 17 với nhiệm vụ ổn định Đại học. Chỉ trong một thời gian ngắn, được sự cộng tác tích cực của lực lượng Cảnh sát Đặc biệt Thủ đô, Ban A 17 đã gặt hái thắng lợi nhanh chóng và tuyệt đối: Giải tỏa áp lực của Thành Đoàn Cộng sản, giúp cho hàng ngũ sinh viên quốc gia lần lượt giành lại quyền kiểm soát Tổng Hội Sinh viên Sài Gòn và Ban đại diện Sinh viên các Phân khoa Đại học, phát hiện và bắt giữ được một số khá lớn các cán bộ Thành đoàn với đầy đủ tang chứng có giá trị pháp luật. Số chạy thoát, phải trốn ra căn cứ hoặc là phải lặn thật sâu.

Đây là thắng lợi lớn và dứt khoát của lực lượng an ninh quốc gia Thủ đô Sài Gòn tại mặt trận Đại học. Tài liệu của Cộng sản đã nhìn nhận sự thất bại của họ trong mặt trận Đại học như sau: ‘…từ năm 1972, địch đã ra tay khủng bố, càn quét, hòng đè bẹp các phong bị trào đấu tranh. Hầu hết những trụ sở tập họp công khai của thanh niên, sinh viên, học sinh đều chúng phá hủy hoặc chiếm đóng…Tình hình im ắng, căng thẳng, không một cuộc đấu tranh công khai lớn nhỏ nào nổ ra được’. (Hàng Chức Nguyên. Trui Rèn Trong Lửa Đỏ. Nxb Trẻ, 2005. Trang 186).

Để góp phần nhỏ bé vào việc giải mật cho những ai còn quan tâm tìm hiểu về các nguyên nhân dấu mặt của sự thành bại trong cuộc chiến Quốc - Cộng trước 1975; đàng khác, cũng hi vọng có thể cung cấp thêm chút ít tài liệu cho bài học lịch sử, sau đây, chúng tôi sẽ đúc kết tóm lược về các tổ chức Cộng sản trong giới học sinh, sinh viên Sài Gòn và các cán bộ lãnh đạo cốt cán của những tổ chức này, đặc biệt là trong khoảng thời gian từ 1954 tới ngày 30 tháng 4 năm 1975.  Lấy mốc thời gian này là vì năm 1954 ông Ngô Đình Diệm lên làm Thủ tướng. Cũng là năm bùng nổ cuộc di cư tị nạn Cộng sản của gần một triệu đồng bào miền Bắc, lôi cuốn theo 1.200 sinh viên, tức 2/3 tổng số sinh viên của Viện Đại học Hà Nội.  Với số sinh viên này, hợp cùng số sinh viên thuộc chi nhánh Viện Đại học Hà Nội có từ trước tại Sài Gòn, chính quyền đã lập ra Viện Đại học Quốc gia Việt Nam. Tới 1957 (Đệ nhất Cộng Hòa), đổi thành Viện Đại học Sài Gòn, sau khi có một Viện Đại học khác vừa được thành lập ngoài Huế. Khi Cộng sản chiếm được Sài Gòn(30.4.1975), Viện Đại học Sài Gòn bị giải thể.

Viết bài này, chúng tôi đã tham khảo một số tài liệu do Thành Đoàn Cộng sản xuất bản sau 1975, như cuốn Theo Nhịp Bước Lên Đàng (Đoàn Thanh niên Cộng sản Tp. HCM / nhiều tác giả. Nhà xuất bản Trẻ, năm 2000) và cuốn Trui Rèn Trong Lửa Đỏ (Tập ký sự truyền thống Thành Đoàn / nhiều tác giả. Cũng do nhà xuất bản Trẻ, năm 2005).

 

II.  SƠ LƯỢC TỔ CHỨC CỘNG SẢN TRONG GIỚI HỌC SINH, SINH VIÊN SÀI GÒN TRƯỚC 1975 VÀ CÁC CÁN BỘ CỐT CÁN CỦA NHỮNG TỔ CHỨC NÀY

Thời gian trước 1954:

Sau khi Thế chiến thứ hai kết thúc năm 1945, người Pháp trở lại Việt Nam, nhiều học sinh bỏ trường đi chống Pháp. Trong số lớp trẻ xếp bút nghiên đi làm cách mạng này, một số đã gia nhập tổ chức Cộng sản.

Năm 1947, Thành ủy Sài Gòn – Gia Định của Cộng sản giao cho Thành ủy viên Phùng Lượng phụ trách công tác thanh niên, học sinh nội thành Sài Gòn và họ lập ra Hội Học sinh Việt Nam Nam bộ (thực chất chính là Đoàn Học sinh Cứu quốc trong nội thành Sài Gòn - Chợ Lớn). Hồi đó chỉ có Viện Đại học Hà Nội, cho nên chưa có tập thể sinh viên ở Sài Gòn. 

Tại một số trường Trung học, CS đã cấy vào được một vài cán bộ nồng cốt. Tất cả  tạm thời góp lại thành chi bộ ghép. Chi bộ ghép tiên khởi này gồm có Trần Huỳnh Long (Trường Petrus Ký), Đỗ Ngọc Thạnh, Nguyễn Ngọc Hà (Trường Chasseloup Laubat), Đỗ Thị Kim Chi (Trường Gia Long), nữ sinh Ngân tức Xinh (Trường Lê Bá Cang).

 

Về hoạt động:  Tuyển mộ thêm cán bộ, rải truyền đơn, phổ biến báo chí và tài liệu.

Năm 1949, Cộng sản thành lập ra Ban Chấp hành Hội Học sinh Nội thành gồm 5 ủy viên: Đỗ Ngọc Thạnh (bỏ học), Tạ Trung Quốc (Trường Chasseloup Laubat), Đỗ Thị Kim Chi (Trường Gia Long). Võ Kim Lang (Trường Lê Bá Cang), Nguyễn Bình Thanh (Trường Marie Curie). Ngoài ra còn có một số cán bộ nòng cốt khác như: Trần Huỳnh Long (Trường Petrus Ký), Nguyễn Quang Cho (Trường Nguyễn Văn Khuê), Trần Quang Cơ (từ Trường Le Myre de Vilers, ở Mĩ Tho lên), Lê Hồng Kê (tức Bùi Văn Trạch) từ trong ‘khu’ về thành. Cộng sản mở những lớp huấn luyện cán bộ ở Vườn Thơm, Đồng Tháp Mười. Hoạt động: rải truyền đơn, bãi khoá.

Thời gian này nổ ra vụ trò Ơn, gây tiếng vang rất lớn: Ngày 09.01.1950, một số học sinh nội trú Trường Petrus Ký, do học sinh Nguyễn Minh Mẩng cầm đầu, kéo nhau đi xin chính quyền thả 2 học sinh của trường bị bắt trước đây. Không có bằng chứng nào nói Cộng sản khởi động vụ này, nhưng Cộng sản đã mau lẹ chớp lấy thời cơ để cướp công. Xảo thuật cướp công lần này giống hệt vụ Việt Minh cướp chính quyền ở Hà Nội trước đó 5 năm (ngày 17.8.1945).  Mới đây, Bs. Nguyễn Minh Tân, hiện đang cư ngụ ở Pháp, là em ruột của thủ lãnh học sinh Nguyễn Minh Mẩng năm xưa, đã xác nhận chính ông lúc ấy cũng là học sinh nội trú Trường Petrus Ký và đích thân đã chứng kiến, tham gia biến cố Trần Văn Ơn. Và ông đã lên tiếng khẳng định như sau: ‘Biến cố Trần Văn Ơn do học sinh Petrus Ký có sáng kiến đi gặp chính quyền để xin khoan hồng cho hai học sinh của trường bị câu lưu. Lúc đó anh em không bao giờ nghe hai tiếng biểu tình. Phong trào đó được dân chúng ủng hộ tham gia và giúp đỡ, trong chiều hướng quốc gia chống Pháp. Một số người trong Chánh quyền lúc đó cũng không có nặng tay đối với học sinh mà có thể cũng đã thầm kín giúp tay cho học sinh.

Cộng sản đã tìm cách lòn vào chóp credit và tuyên truyền hầu dụ dỗ các học sinh vào khu.

Biến cố bạo động sau đó, đốt xe đốt chợ là của CS, muốn thừa dịp tái bản vụ Trần Văn Ơn 2. Nhưng họ đã thất bại vì không được học sinh và dân chúng ủng hộ nên bị xẹp một cách nhanh chóng’ (Bs. Nguyễn Minh Tân.  Biến Cố Trần Văn ƠN. Người Việt Dallas-Fort Worth. Số 763, ngày 12.9.2008. Trang 4D).

1950: Lập ra Ban cán sự phụ trách công tác học sinh gồm có Lê Hồng Kê (7 Kê, Bùi Văn Trạch), Đỗ Ngọc Thạnh tức ‘Ba học sinh’, Trần Quang Cơ, Nguyễn Đông Hà (3 Lam), Huỳnh Ngọc Anh (Tư Nhỏ).

 

Khoảng thời gian 1954 – 1960

Để có thể tuyển mộ thêm thành viên, Đặc khu ủy Sài Gòn – Gia Định chỉ đạo mở rộng tổ chức thành Ban cán sự thanh niên, học sinh, sinh viên, giáo chức và kí giảPhụ trách: Võ Văn Tuấn (2 Trúc), Bùi Văn Trạch (7 Kê), Trần Quang Cơ (8 Lượng), Lê Minh Quới (7 Tương, 7 Lễ), Hồ Hảo Hớn (2 Nghị), Trần Văn Nguyên (Thanh Giang). Họ lãnh đạo một số chi bộ học sinh và sinh viên nằm vùng tại các trường cao đẳng Vô Tuyến Điện, Hàng Hải, Y-Dược, Luật…Giai đoạn này là giai đoạn Liên chi ủy lãnh đạo.

Các lớp huấn luyện tổ chức vào các kì nghỉ Hè, tại Bến Dược, Củ Chi, Bàu Trai, Đức Hòa (Long An), Long Tân (Ông Kèo) huyện Long Thành, Mộc Hóa…Phát hành tờ Học Sinh Cứu Nước.

 

Khoảng thời gian 1960 – 1964

Đầu năm 1960, Bí thư Khu ủy Sài Gòn – Gia Định Võ Văn Kiệt (9 Dũng, 6 Dân), chỉ thị thành lập Ban Vận động học sinh, sinh viên Sài Gòn – Gia Định với chủ trương tích cực xây dựng và cài lực lượng bí mật, bán công khai và công khai vào các tổ chức học đường.  Cán bộ chủ chốt: Phan Chánh Tâm (phụ trách), Lê Quang Vịnh (bị bắt tháng 8, 1961 tại Củ Chi), Lê Văn Tân (6 Ninh, 3 Phú), Phạm Chánh Trực (10 Dũng, 3 Thạch, 5 Nghị).

Cộng sản cũng bắt đầu mở những khoá huấn luyện như: khoá Rừng Già tại Dương Minh Châu 6, 1960; khoá Rừng Xanh cuối 1960 tại Nhuận Đức, Củ Chi. Khoá ‘Đại Tây Dương’ tại Ba Thu, huyện Đức Hòa. Nội dung huấn luyện cán bộ về 5 bước công tác: điều tra, tuyên truyền, tổ chức, huấn luyện, đấu tranh. Các nguyên tắc hoạt động: bí mật, ngăn cách, quan hệ đơn tuyến hoặc tổ tam tam; tổ chức bí mật không được nhập nhằng với công khai. Quan hệ không xé rào hoặc dính chùm. Bị bắt phải giữ khí tiết cách mạng, không khai báo.

Cuối 1960, tại khoá Rừng Xanh, Cộng sản tuyên bố thành lập Ban Cán sự Thanh niên Học sinh Sinh viên Khu Sài Gòn – Gia Định. Bí thư: Trần Quang Cơ (8 Lượng, 2 Lực), Lê Thanh Hải (10 Nhom, 10 Hải); Phó bí thư: Hồ Hảo Hớn (3Lực, 2 Nghị); Ủy viên thường vụ: Lê Minh Châu(3 Cảnh), Phan Chánh Tâm (3 Vạn), Nguyễn Đông Hà (3 Lam), Nguyễn Thị Tràm (3 Võ), Tăng Anh Dũng (2 Minh, 6 Thơ), Lê Hồng Tư (5 thợ hồ), Nguyễn Văn Tỵ (2 Thu).

 

Các ban phụ thuộc:

Ban cán sự học sinh: Lê Minh Châu (Thường vụ phục trách) Phan Chánh Tâm (5 Pha. 3 Tiền, 3 Vạn) phụ trách các trường vùng Gia Định, Tân Định, Phú Nhuận, Đa Kao; Lê Hồng Tư (5 thợ hồ) phụ trách các trường vùng trung tâm Sài Gòn; Hồ Hảo Hớn (3 Lực, 2 Nghị) phụ trách các vùng còn lại.

Ban cán sự sinh viên: Hồ Hảo Hớn, Nguyễn Thị Mỹ Diệm (6 Thanh), Nguyễn Thị Loan Anh (5 Nga).

Mỗi cánh có căn cứ riêng để tiện lẩn tránh hoặc để học tập. Cánh Phan Chánh Tâm đặt căn cứ ở Thạnh Lộc thuộc xã An Phú Đông; cánh Lê Hồng Tư đặt dưới Long An; cánh Hồ Hảo Hớn đặt tại ấp Chánh xã Tân Thông Hội….

Hoạt động: Giai đoạn này Cộng sản mới chỉ xâm nhập lẻ tẻ vào hiệu đoàn một số trường Trung học và tham gia công khai các sinh hoạt học đường như báo chí, du ngoạn, thể thao, công tác xã hội.  Họ chưa nắm được một Ban đại diên sinh viên nào.

Tuy năm 1960 là năm Cộng sản phát động ‘Đồng khởi’ khắp nơi ở miền Nam, nhưng họ chưa đủ khả năng chủ động mở mặt trận trong học đường. Chính họ đã phải thú nhận: ‘Nhớ lại thời kì Phật giáo đấu tranh 1963-1964, cơ sở cách mạng trong học sinh, sinh viên chưa đủ mạnh để có thể phát động độc lập các phong trào lớn trực diện đấu tranh chính trị với chính quyền Sài Gòn, cho nên Khu ủy chỉ đạo ‘Phải tấp vô cùng đồng bào và Phật giáo đấu tranh’ (Theo Nhịp Khúc Lên Đàng. Nhà xuất bản Trẻ, 2000. Trang 19).

Về báo chí: báo bí mật như Cờ Giải Phóng, Suối Thép, học sinh có tờ Lửa Thiêng; báo công khai có Hồn Trẻ.

 

Các bộ phận trực thuộc khác: Xâm nhập vào một số tổ chức học đường; Phật tử; Mặt Trận Dân Tộc Tự Quyết; các nhóm ‘Sao Băng’, ‘Sao xẹt’; một số cơ sở bí mật ở Đakao, Tân Định, quận 3; bộ phận công tác an ninh; lực lượng vũ trang.

Bề ngoài, các tổ chức Đảng phụ trách thanh niên, học sinh, sinh viên này mang tên một tổ chức có tính cách ‘mặt trận’ là Hội Liên hiệp Thanh niên Sinh viên Học sinh Giải phóng Sài Gòn – Gia Định lập ra ngày 09 tháng 01 năm 1961 để dễ tập hợp sinh viên, học sinh.

 

Khoảng thời gian 1965 – 1967

1.     Tổ chức bí mật: Đoàn Thanh niên Nhân dân Cách mạng Đặc khu Sài Gòn – Gia Định (Cộng sản chia lãnh thổ thành các Khu: Khu 9, Khu 8, Khu 7…riêng Sài Gòn - Gia Định được gọi là Đặc khu vì tầm mức quan trọng đặc biệt).

Ban chấp hành: Bí thư: Phạm Trọng Danh (tức Lê Thanh Hải, 10 Hải, 10 Nhom), Phó bí thư: Hồ Hảo Hớn (3 Lực, 2 Nghị), Ủy viên thường vụ: Lê Quang Thành (4 Thành), Nguyễn Tuấn Giao (5 Giang), Lê Minh Châu ( 3 Cảnh), 8 Quang (bổ sung tháng 6, 1965).

Ủy viên Ban chấp hành: Phan Chánh Tâm, Lê Thiết (4 Kiếng), Lê Tấn Quốc, Nguyễn Đông Hà, Nguyễn Văn Minh (3 Minh), 6 Thắm. Tháng 6, 1965, bổ sung thêm: Phạm Chánh Trực, Đỗ Hoàng Hải, 5 Lộc (3 Thoại), Lê Mỹ Lệ (5 Trang), Phạm Văn Hai.

Đoàn ủy học sinh: Bí thư: Phan Chánh Tâm (3 Vạn), phó bí thư: 5 Lộc (3 Thoại). Tháng 11, 1965, Phan Chánh tâm chuyển qua đoàn ủy sinh viên, 5 Lộc lên làm bí thư.

Đoàn ủy sinh viên: Bí thư: Lê Thiết, Phan Chánh Tâm lên thế vào 11, 1965; Phó bí thư: Phạm Chánh Trực. Tháng 01, 1966, Phạm Chánh Trực lên bí thư, Phan Văn Dinh (8 Bông, 9 Kế) lên phó bí thư. Các ủy viên: Hoàng Thị Kim Dung (7 Bích, 2 Cường), Nguyễn Thị Loan Anh (5 Nga), Nguyễn Ngọc Phương (3 Triết), Nguyễn Hữu Phuớc (4 Hữu, 3 Thành), Võ Ngọc An (7 Câu), Lê Thanh Văn, Đặng Thiện.

Các ban ngành khác: Ban vận động thanh niên trí thức; Ban quân sự và lực lượng biệt động Khu đoàn; Ban an ninh vũ trang; Ban tuyên huấn; các trường nữ và nữ thanh: Nguyễn Thị Tràm (3 Võ), Lê Mỹ Lệ (5 Trang); Binh vận; Phân Khu đoàn Thủ Đức; Phân Khu đoàn Dĩ An; Phân Khu đoàn Bình Tân; Phân Khu đoàn Nhà Bè, Gò Môn, Củ Chi.

 

2.     Tổ chức công khai:

  Học sinh: Ban đại diện học sinh các trường công và tư; Học sinh vụ thuộc Tổng Hội sinh viên; Tổng Đoàn Học sinh Sài Gòn.

  Sinh viên: Ban đại diện sinh viên các Phân khoa, các trường Đại học; Tổng Hội Sinh viên Sài Gòn.

Thanh niên công nhân: Đoàn thanh niên phụng sự lao động (Chủ tịch: Nguyễn Văn Toản).

Phân công cán bộ để nắm và lèo lái hoạt động của tổ chức Thanh niên Phật tử.

Khu ủy Sài Gòn – Gia Định cử Lê Thanh Hải đặc trách tổ chức Phong trào Dân tộc Tự quyết và Hòa bình, lôi kéo các nhân sĩ, trí thức tên tuổi và lấy lực lượng sinh viên, học sinh làm nòng cốt.

 

Khoảng thời gian 1967 – 1972

1.  Tổ chức bí mật:

         a.   Thành Đoàn Sài Gòn – Gia Định

Bí thư: Hồ Hảo Hớn (Bí thư tiên khởi của Thành Đoàn), Phan Chánh Tâm (lên thay khi Hớn bị bắt), phó bí thư: Phạm Chánh Trực, Lê Mỹ Lệ(chuẩn bị trận Tết Mậu Thân 1968). 1970, Trang Văn Học (5 Tranh) lên bí thư thay Phan Chánh Tâm (bị bắt). Khi Phan Chánh tâm vượt ngục thành công, đã nắm lại chức bí thư, Phạm Chánh Trực và Lê Mỹ Lệ (5 Trang) làm phó bí thư như trước.

Thường vụ: Trương Mỹ Lệ (4 Liêm), Nguyễn Văn Chí (7 Điền, 6 chí), Nguyễn Ngọc Phương (3 Triết), Trang Văn Học.

Đoàn ủy sinh viên: Nguyễn Ngọc Phương, Trần Khiêm, Dương Văn Đầy, Nguyễn Văn Sự, Lê Công Giàu, Trần Thị Ngọc Hải.

Đoàn ủy học sinh: Lê Mỹ Lệ (bí thư), Nguyễn Thị Nghĩa (9 Ngân), Nguyễn Thị Thiên Bình.

 

b.     Tổ chức bí mật trong chiến dịch tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968

1/ Lực lượng 1: Lực lượng vũ trang và biệt động: Chỉ huy: Lê Tấn Quốc. Phó: Trang Văn Học. Thành viên: Nguyễn Văn Minh (10 Minh), Phan Thanh (3 Tung), Bùi Thị Thanh (4 Hoành), Huỳnh Công Khanh (6 Vĩnh), Lê Văn Hưng (10 Hưng), ‘dì’ Sáu Hòa.

 

2/ Lực lượng 2: Lực lượng chính trị vũ trang. Chỉ huy: Nguyễn Văn Dũng (Trung ương Cục điều động bổ sung). Phó: Phạm Chánh Trực.

 

3/ Lực lượng 3: Chính trị công khai: Chỉ huy: Phan Chánh Tâm (3 Vạn). Phó: Phan Văn Dinh (9 Kế) và Dương Văn Đầy (3 Niên).                                                                

Trong trận tổng tấn công tổng nổi dậy hồi Tết Mậu Thân 1968, Cộng quân đã bị đánh bại thê thảm trong cả đợt 1 cũng như đợt 2 cho nên những lực lượng nằm vùng vừa kể trên đều mất liên lạc với bộ chỉ huy và đã không có bất cứ hành động nào đáng ghi nhận. Thực ra trước đó, Thành ủy đã tưởng có thể gặt hái được chút thành công, cho nên đã cắt tới 2/3 lực lượng  Thành Đoàn để đưa về các quận, lập ra các đảng ủy liên phường, coi như bộ khung chính quyền trong trường hợp họ đạt được thắng lợi.

 

2.  Tổ chức công khai và bán công khai:         

Ban đại diện các trường học; Trung tâm cứu trợ; Đoàn thanh niên Phật tử; Thanh Sinh Công (thanh niên, sinh viên Công giáo); Thanh Lao Công(thanh niên lao động Công giáo của đám linh mục Trương Bá Cần, Phan Khắc Từ…).

 

Khoảng thời gian 1973 – 1975

 

1.     Tổ chức bí mật

a.     Thành Đoàn Sài Gòn – Gia Định:

Bí thư: Phạm Chánh Trực, phó bí thư: Nguyễn Văn Nguyên (10 Nguyên) và Trương Mỹ Lệ (10 Trương).

b.     Các bộ phận trực thuộc: Đoàn ủy sinh viên; Đoàn ủy học sinh; Đoàn ủy các xí nghiệp trọng điểm; Ban công tác mặt trận thanh niên; hệ thống đoàn các cấp: Quận đoàn và Huyện đoàn; Ban quân sự Thành Đoàn; Ban Tuyên huấn; Ban Tổ chức; Văn phòng Thành Đoàn.

c.      Đảng ủy các trường Đại học và Trung học trọng điểm:

 Thành ủy chỉ thị thành lập ra Đảng ủy các trường Đại học và Trung học trọng điểm với nhiệm vụ bám trụ nội thành để chỉ đạo trực tiếp phong trào sinh viên, học sinh. Bí thư: Phạm Chánh Trực, Phó bí thư: Trương Mỹ Lệ, Đảng ủy: Dương Văn Đầy.

 

2.     Tổ chức công khai

a.     Sinh viên: Tổng hội Sinh viênViệt Nam, Tổng hội Sinh viên Sài Gòn (28.7.1971), Tổng hội Sinh viên Vạn Hạnh, Ban đại diện Sinh viên các trường Đại học.

b.     Học sinh: Tổng Đoàn Học sinh Sài Gòn (ra đời 15.10.1964, Nguyễn Chơn Trung tức 4 Lý, 6 Quang, là chủ tịch đầu tiên; Trung là chủ tịch Petrus Ký), Đoàn học sinh Sài Gòn, Văn đoàn học sinh Sài Gòn, Đội Thiếu niên Phù Đổng, Đội Thiếu niên khăn quàng đỏ.

c.      Các tổ chức khác: Đoàn Văn nghệ Sinh viên Học sinh, Đoàn Công tác Xã hội Sinh viên Học sinh Sài Gòn, một phần trong Ủy ban Cải thiệnChế độ Lao tù, một phần trong Ủy ban Đòi Quyền Sống Đồng bào, một phần trong Mặt trận Nhân dân Cứu Đói.

 

VÀI NHẬN XÉT

1.  Nói chung: Cho đến bây giờ, thỉnh thoảng vẫn còn có người viết lách mắng mỏ Cộng sản là ngu dốt. Thiển nghĩ chỉ đúng một phần, bởi vì rõ ràng họ rất dở trong việc làm cho dân giàu nước mạnh, nhưng có thể khẳng định ngay một điều là Cộng sản rất ‘giỏi’ trong loại chiến tranh lật đổ nhằm cướp chính quyền mà họ tiếm danh là làm cách mạng, bởi vì họ được huấn luyện thuần thục loại chiến tranh này.

 

2.  Riêng về Thành Đoàn Cộng sản trong mặt trận Đại học:

*  Tổ chức : Có 2 mặt: chìm và nổi. Mặt chìm gồm hầu hết là những đảng viên, chỉ một ít là đoàn viên. Họ là thành phần cốt cán và lãnh đạo phong trào sinh viên, học sinh từ trong bóng tối. Họ ít bị hi sinh hơn. Mặt nổi là mặt công khai gồm những sinh viên  học sinh được tuyển chọn để tranh lấy những vị trí trong các tổ chức học đường như Tổng hội Sinh viên Sài Gòn, Vạn Hạnh, Tổng Đoàn Học sinh Sài Gòn hay Ban đại diện Sinh viên các phân khoa, các Ban văn nghệ, các Ban cứu trợ…

 

* Tuyển mộ kĩ lưỡng: Đối tượng không thuộc gia đình quân nhân công chức cao cấp, có tư tưởng ‘tiến bộ’. Đầu tiên, đối tượng được xếp loại ‘quần chúng tốt’, rồi lên Hội viên (Hội Liên hiệp Thanh niên Sinh viên Học sinh Giải phóng Khu Sài Gòn – Gia Định), tiếp theo là Đoàn viên (Thành Đoàn Thanh niên Nhân dân Cách mạng), cuối cùng mới được kết nạp đảng.

 

* Huấn luyện: Huấn luyện tại chỗ hoặc được giao liên bí mật đưa vào căn cứ. Học 5 bước: điều tra, tuyên truyền, tổ chức, huấn luyện, đấu tranh. Hoạt động đơn tuyến hoặc tổ tam tam. Hoạt động bí mật không được lẫn lộn với công khai. Không được xé rào khi tiếp xúc. Tránh quan hệ dính chùm. Bị bắt phải giữ khí tiết không khai báo, áp dụng công thức: nhất lí nhì lì tam suy tứ tử: cãi lí, lì chịu đòn, giả bệnh, giả chết để tìm cơ hội vượt ngục.

 

* Hoạt động: Về lí thuyết, khai thác tối đa ý chí bài ngoại, chống ‘đế quốc Mỹ xâm lược’, ‘chính quyền VNCH chỉ là bù nhìn, tay sai’, còn ‘Cách mạng’ là chính nghĩa, là dân tộc, hi sinh chiến đấu giải phóng miền Nam, vì độc lập, tự do, hạnh phúc, bình đẳng, cơm no áo ấm cho đồng bào.

Về chiến thuật thì khi yếu, lợi dụng tối đa những nhân vật, tổ chức, hội đoàn tiến bộ hợp pháp, công khai và bán công khai để bảo toàn lực lượng và dần dần cài người vào. Khi đã nắm được quyền thì tiến công liên tục dưới mọi hình thức, làm cho Sài Gòn càng rối loạn bao nhiêu càng ‘tốt’ bấy nhiêu.

 

* Kết quả: Thành đoàn Cộng sản đã thành công giành được các Ban chấp hành Tổng hội Sinh viên Sài Gòn (1966-67, 1967-68, 1968-69, 1969-70), Tổng hội Sinh viên Vạn Hạnh, Tổng đoàn Học sinh Sài Gòn và một số Ban đại diện các phân khoa… Đã lôi kéo được một lớp sinh viên học sinh tạo thành phong trào sinh viên, học sinh tranh đấu sôi nổi trong một thời gian ngay trong lòng Thủ đô Sài Gòn.

 

3.  Khối đa số sinh viên quốc gia thầm lặng: Chỉ lo học hành. Không tham gia bầu cử Ban đại diện sinh viên. Không thích Cộng sản, nhưng cũng không làm gì để chống hay tẩy chay các hoạt động của Cộng sản trong nhà trường. Vì thế, một liên danh ứng cử Ban đại diện một Phân khoa do Thành đoàn Cộng sản đưa ra, chỉ cần đạt số phiếu rất nhỏ so với tổng số sinh viên thuộc Phân khoa là có thể đắc cử. Khi liên danh đó đắc cử, nghiễm nhiên có quyền đại diện ăn nói chính thức, hợp pháp. Họ bảo bãi khoá, tức thì cả trường đóng cửa. Họ nhân danh toàn thể sinh viên để yêu sách, đòi hỏi, tố cáo…Và họ liên kết với các thành phần thiên tả, thân Cộng để liên tục mở ra nhiều đợt, nhiều hình thức đấu tranh. Chẳng những khối sinh viên thầm lặng mà ngay cả một số giáo sư và một số giới chức nhà trường cũng bị họ khống chế dễ dàng!

 

4.  Luật pháp của một quốc gia tự do dân chủ rõ ràng đã trói tay chính quyền trong cuộc chiến đối đầu với bọn Cộng sản qủy quyệt. Vì thế, lực lượng an ninh quốc gia tốn công sức rất nhiều mới thâu thập đủ bằng chứng để có thể giam giữ một cán bộ Cộng sản cốt cán. Đến khi Cộng sản nắm được chính quyền thì luật pháp đối với họ chỉ là cái bình phong, là công cụ của chính trị, là loại luật rừng ‘vừa đá banh vừa thổi còi’. Nghi ngờ: bắt! Nhiều trường hợp bắt để đề phòng! Sau 30.4.1975, Cộng sản giam giữ hàng vạn người không cần xét xử. Chỉ cần một tờ giấy hành chánh, họ đã nhốt hàng vạn sĩ quan, viên chức chính quyền VNCH vô thời hạn.

 

5. Tại sao A 17 đánh bại được Thành Đoàn Cộng sản trong mặt trận Đại học?

Vì ở thế chính quyền bao giờ cũng mạnh tuyệt đối.

Có đủ nhân sự và phương tiện.

Ông Nguyễn Thành Long lãnh đạo Ban A 17 là một cấp chỉ huy xuất sắc: tốt nghiệp Học viện  Quốc Gia Hành Chánh và Luật khoa Đại học Sài Gòn, trẻ, độc thân, thanh liêm, có trí nhớ rất tốt, quyết định nhanh và dứt khoát, với một tinh thần quốc gia chân chính và được thượng cấp giao trọn quyền.

Thành viên Ban A 17 hơn phân nửa đã tốt nghiệp Đại học, số còn lại đã xong vài ba chứng chỉ, cho nên họ không xa lạ hoặc mặc cảm với môi trường Đại học. Hơn nữa, họ thân quen với các bạn bè sinh viên thuộc đủ mọi thành phần chính kiến, rất thuận lợi cho việc thâu thập tin tức đối phương. A 17 cũng được sự hợp tác của một số cán bộ Thành Đoàn Cộng sản bị bắt (vẫn chưa tiện nêu danh tính). Cuối cùng, A 17 còn được ngành Cảnh sát Đặc biệt Thủ đô tích cực cộng tác, khiến cho nhiệm vụ ổn định Đại học càng mau chóng gặt hái thành công to lớn.

 

6.  Ôn cố nhi tri tân:  Bài học rút ra từ bài viết trên đây, nói gì với người Việt quốc gia đang sống tại hải ngoại? Bài học đó nói: bất cứ nơi nào có cộng đồng người Việt quốc gia, CSVN đều tìm cách cài người vào để hoạt động lũng đoạn, khuynh loát, và cuối cùng, chiếm lấy độc quyền lãnh đạo.

 

Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập trong Hội nghị tại Hong Kong, từ ngày 3 tới 7 tháng 2 năm 1930, cho tới nay là 80 năm. Đảng Cộng sản nào cũng đặc biệt chú trọng đến  công tác an ninh, tình báo. Suốt 80 năm qua, nhờ yếu tố có sự lãnh đạo liên tục lâu dài, CSVN đã tích lũy được vốn liếng an ninh, tình báo rất đáng kể.

 

Khi xẩy ra biến cố đồng bào miền Bắc ồ ạt di cư vào miền Nam để tị nạn Cộng sản sau Hiệp định Genève 1954, Cộng sản đã nhanh tay bố trí các điệp viên vào dòng người di cư. (Một thí dụ cụ thể là vụ án cụm tình báo chiến lược A 22 làm xôn xao dư luận trong và ngoài nước vào cuối 1969. Vụ án đó, chính quyền VNCH đã đem ra tòa xét xử các điệp viên Cộng sản: Vũ Ngọc Nhạ, Nguyễn Xuân Hòe, Vũ Hữu Ruật, Nguyễn Xuân Đồng, Lê Hữu Thúy, Huỳnh Văn Trọng…).

Tương tự, tình báo chiến lược CSVN cũng đã lén lút gửi nhiều điệp viên của họ ra hải ngoại theo các đợt người vượt biên, vượt biển và có thể cả trong các đợt HO. Khi CSVN có Tòa Đại sứ và 2 Tòa Lãnh sự tại Hoa Kì thì những nơi này đang đảm nhiệm vai trò lãnh đạo mạng lưới tình báo của CSVN. Hiện nay, chắc chắn Cộng sản Việt Nam đã cài xong mạng lưới tình báo chiến lược tại hải ngoại và họ đang vận hành mạng lưới đó tại khắp nơi có cộng đồng người Việt cư ngụ. Mặc dù mắt dân thường không thấy, nhưng mạng lưới tình báo chính trị chiến lược này của CSVN tại hải ngoại vẫn là một sự thật hiển nhiên.

 

Để tưởng nhớ các bạn A 17 Lê Quảng Lạc, Hứa Minh Chánh và Nguyễn Thanh Nhàn.



ĐỐI DIỆN VỚI LM CHÂN TÍN

 

Bạch Diện Thư Sinh

Dịp năm mới vừa qua, mạng Nữ Vương Công Lý lại tung ra loạt bài phỏng vấn linh mục Chân Tín về hiện tình Đất nước, Giáo hội và những dư luận xung quanh cuộc đời hành hiệp của ông. Nội dung chính một số bài trả lời phỏng vấn lần này, không khác mấy so với loạt bài phỏng vấn của ông Vũ Sinh Hiên hồi 2009.
Trước 30.4.1975, chúng tôi trực tiếp tham gia công tác ‘ổn định Đại học’, đương nhiên chúng tôi rất chú ý câu trả lời của Lm. Chân Tín có liên quan tới công tác ổn định Đại học xưa kia của chúng tôi. Chúng tôi nhận thấy linh mục chưa nói đúng sự thật; nhất là linh mục vẫn hãnh diện về thành tích của báo Đối Diện, do ông làm Chủ nhiệm, đã bênh vực và thông tin không công cho các hoạt động chống phá VNCH của Thành đoàn Cộng sản. (Thành Đoàn tức Thành Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam hay Thành Đoàn Thanh niên Nhân dân Cách mạng, nay là Thành Đoàn Thanh niên Cộng sản Thành phố Hồ Chí Minh, có nhiệm vụ vận động thanh niên nội thành và ngoại ô Sài Gòn – Gia Định).
Tây có câu: Bạn của bạn ta là bạn ta. Vậy cũng có thể nói: Kẻ thù của kẻ thù ta là bạn ta không? Ít ra, cũng có thể là đồng chí giai đoạn, đồng chí ‘chiến thuật’vì tất cả chúng ta hiện đang có cùng một đối thủ là bọn cầm quyền bất xứng tại Hà Nội.
Cuộc chiến Quốc - Cộng qua lâu rồi, hiện nay đang diễn ra cuộc chiến mới giữa một bên là đảng CSVN độc tài, toàn trị với bên kia là đa số đồng bào VN khát mong Độc lập -Tự do - Hạnh phúc thật sự.  Quan sát thấy, vài năm sau 30.4.1975, Lm. Chân Tín và cố Gs. Nguyễn Ngọc Lan đột nhiên xoay chiều.  Hai ông đã mạnh dạn bênh vực công lí, phê phán những sai trái của đảng CSVN. Tức là hai ông trở thành đồng chí trong cuộc chiến đấu hiện nay của đa số đồng bào Việt Nam. 
Vì cái thế “liên minh” này, chính ra tạm thời không nên khơi lại chuyện cũ, để tất cả cùng nhau củng cố lực lượng và chiến đấu trong cuộc chiến mới, giành tự do, công lí, bảo vệ bờ cõi. Vả lại, về một số hoạt động cũ của hai ông Lm. Chân Tín và cố Gs.Nguyễn Ngọc Lan, chúng tôi đã có dịp trang trải trong bài Về Nhân Vật Nguyễn Ngọc Lan (
motgoctroi.com / Mục Lịch sử cận đại).
Thế nhưng cây muốn lặng mà gió chẳng đừng, khi trả lời phỏng vấn, vẫn giọng điệu cũ, Lm. Chân Tín kết án chính quyền VNCH bắt bớ sinh viên và những nhà tranh đấu.  Ông bảo hành động như thế là ông thi hành “sứ mệnh ngôn sứ” mà ông “đã lãnh nhận”.  Do đó, bất đắc dĩ chúng tôi phải nhắc lại chuyện xưa, mục đích là để chứng minh: chính quyền VNCH chỉ bắt một số những tên cán bộ Việt Cộng cốt cán thuộc Thành đoàn Cộng sản trong Đại học, chứ không dại để đi bắt “đa số sinh viên” thuần túy làm gì. Cũng xin hạn chế chỉ bàn bạc chuyện “bắt bớ sinh viên”, không bàn về những câu trả lời phỏng vấn khác của Lm. Chân Tín.  (Nhân thể, chúng tôi sẽ cống hiến độc giả thêm một bài nữa về cái gọi là Ủy Ban Vận động Cải thiện Chế độ Lao Tù miền Nam Việt Nam (UBVĐCTCĐLTMNVN) mà hồi đó Lm. Chân Tín giữ vai trò lãnh đạo, vì Ủy ban này ra đời sau đợt tranh đấu đòi thả bọn sinh viên Việt Cộng vào năm 1970).
Trước hết, xin điểm qua phần trả lời câu hỏi 4 của Lm. Chân Tín trên mạng Nữ Vương Công Lý.
Câu hỏi 4. Nhiều người cho rằng: trước đây linh mục Chân tín đã có thời “thân cộng sản”, điều này có đúng không và có phải vì có thời kỳ đó mà cha đã có nhiều kinh nghiệm với cộng sản hay không? Nếu có thể xin cha nói về vấn đề này?
Linh mục Chân Tín trả lời : Trước 1975, tôi và một số linh mục cùng một số giáo dân trí thức đã chống chế độ Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu vì đã bắt bớ sinh viên và những người hoạt động chính trị. Các sinh viên và những người này bị bắt và bị tra tấn. Chúng tôi, 8 linh mục đã điều tra cẩn thận, nên đã lên tiếng yêu cầu trả tự do cho họ. Cuộc đối đầu giữa sinh viên và chế độ Nguyễn Văn Thiệu kéo dài và tờ báo Đối Diện của tôi đã bênh vực các sinh viên ấy. Cộng sản lợi dụng cuộc đấu tranh đó và nghĩ là chúng tôi về phe họ. Nhiều người trong chế độ cộng hòa cũng nghĩ như vậy. Tôi quan niệm rằng có bất công dù ở chế độ nào thì tôi cũng lên tiếng vì đó là sứ mạng ngôn sứ tôi đã lãnh nhận. Sau khi cộng sản chiếm Miền Nam, tôi tiếp tục đấu tranh chống chế độ cộng sản. Dù bị cộng sản kết án 3 năm quản chế tại Cần Giờ, tôi vẫn tiếp tục chống cộng sản cho tới nay.
Dù sao, tôi rất thông cảm với những người, đặc biệt là những anh em, những công chức của chế độ Việt Nam cộng hòa đã bị cộng sản hành hạ, bắt bớ, tù đầy. Tôi mong anh em hiểu rằng tôi không bao giờ theo cộng sản.
● “Trước 1975, tôi và một số linh mục cùng một số giáo dân trí thức đã chống chế độ Nguyễn Văn Thiệu vì đã bắt bớ sinh viên và những người hoạt động chính trị”.
Bắt “sinh viên” hay bắt “sinh viên Việt Cộng”?  Cho tới nay, Lm. Chân Tín vẫn cố tình đánh lừa dư luận bằng cách nói thiếu 2 chữ quan trọng: chính ra linh mục phải nói “…vì đã bắt bớ sinh viên Việt Cộng…” thay vì chỉ là “bắt bớ sinh viên”.  Thực tình, mới nghe qua câu trả lời của Lm. Chân Tín trên đây, người ta dễ có ý nghĩ ông chống như thế là đúng, là tốt quá.  Ông đáng được tưởng thưởng giải nhân quyền! Nhưng thực tế không đơn giản như vậy. Trong chiến tranh nhằm nhuộm đỏ miền Nam, CSBV đã mở nhiều mặt trận, cài người vào các cơ quan nhà nước và mọi tổ chức ngoài xã hội. Trong trường học, nhất là Đại học cũng có Việt Cộng và những thành phần thân Cộng. Họ đã biến học đường thành một mặt trận do Thành đoàn Cộng sản lãnh đạo với tổ chức quy mô gồm 2 hệ thống bí mật và công khai (Xin đọc bài Sơ Lược Tổ Chức Cộng Sản Trong Giới Sinh Viên Học Sinh SàiGòn Trước 1975 của Bạch Diện Thư Sinh trên
motgoctroi.com). Cho nên đương nhiên cơ quan hữu trách VNCH có nhiệm vụ phát hiện và vô hiệu hóa hoạt động của Cộng sản trong học đường, nhất là trong Đại học.
Vào thời điểm 1970, nếu nhiều người ở Miền Nam chưa biết các sinh viên bị chính quyền VNCH bắt có phải là Việt Cộng hay không thì còn tạm hiểu được, nhưng mà Lm. Chân Tín cũng như các lực lượng có trách nhiệm gìn giữ an ninh đều biết họ là ai.  Chính Lm. Chân Tín khi trả lời phỏng vấn cũng đã xác nhận hồi đó linh mục đã biết họ là những kẻ đứng “sau lưng” những cuộc biểu tình chống chính phủ.  Thế mà Lm. Chân Tín và báo Đối Diện của ông vẫn ủng hộ những cuộc biểu tình ấy.  Và cho tới bây giờ, Lm. Chân Tín vẫn luận điệu cũ, cáo buộc chính quyền VNCH đã bắt “sinh viên”.
Sau 30.4.1975, mọi người thấy những tên sinh viên Việt Cộng ở “sau lưng” (không kể những tên đã kịp lặn sâu hoặc chạy thoát vào mật khu) mà Lm. Chân Tín đã tranh đấu đòi thả ra, hầu như tất cả đã trở về và nắm giữ các chức vụ quan trọng.  Họ chính là  Lê Quang Vịnh, Phan Trọng Danh, Phan Chánh Tâm, Phạm Chánh Trực, Dương Văn Đầy, Trầm Khiêm, Lê Công Giàu, Huỳnh Tấn Mẫm, Võ Như Lanh, Tôn Thất Lập, Trần Văn Long, Nguyễn Chơn Trung, Cao Thị Quế Hương, Võ Thị Bạch Tuyết, Trần Thị Lan, Hạ Đình Nguyên, Trần Thị Huệ, Lê Văn Nuôi, Trịnh Đình Ban, Vũ Quang Hùng, v.v….
Chính quyền VNCH đã bắt đúng đối tượng, nghĩa là chỉ bắt những kẻ “sau lưng” như cách nói của Lm. Chân Tín mà thôi.  Không có chính quyền nào, vô cớ, lại đi bắt  đám đông sinh viên đi biểu tình như Lm. Chân Tín đắc ý nêu ra để tự đánh bóng. Thông thường, khi dẹp một cuộc biểu tình, nếu nhất thời phải hốt một số đông quá hung hăng về cơ quan, thì sau đó nhà chức trách cũng nhanh chóng gạn lọc và thả ngay đa số những thành phần không có vấn đề.

Khi trả lời cuộc phỏng vấn, Lm. Chân tín cũng tỏ ra rất hãnh diện về thành tích báo Đối Diện của ông. Linh mục cho biết, từ số Đối Diện số 11, có Lm. Nguyễn Ngọc Lan về cộng tác.  Từ đó, Đối Diện trở thành tờ báo duy nhất “tường thuật” đầy đủ các vụ xuống đường của sinh viên, đang khi tất cả các tờ báo khác chỉ “đưa tin".  Thời điểm mà Lm. Chân Tín đang đề cập là thời điểm nổ ra vụ án “Thành đoàn giải phóng”, còn gọi là “Vụ án 10.3.1970” hay là “Vụ án Sinh viên Huỳnh Tấn Mẫm”.
Gọi là “Vụ án Sinh viên Huỳnh Tấn Mẫm” vì Mẫm được coi “là lãnh tụ, là ngọn cờ tập hợp nhiều giới vào một mặt trận chung…”, “là  một biểu tượng trung tâm của phong trào đấu tranh công khai giữa lòng đô thị”.  Gọi là “Vụ án 10.3.1970” vì đó là ngày sinh viên Việt Cộng Huỳnh Tấn Mẫm bị bắt lại tại Đại học xá Minh Mạng cùng đợt với một số sinh viên Việt Cộng khác.
Lúc đó, Mẫm là Chủ tịch Tổng hội SVSG, được Thành đoàn Cộng sản đánh giá là “lãnh tụ, là ngọn cờ tập hợp nhiều giới vào một mặt trận chung…”, “là một biểu tượng trung tâm của phong trào đấu tranh công khai giữa lòng đô thị”, cho nên Thành đoàn Cộng sản đã ra lệnh phải lợi dụng dịp Mẫm bị bắt và ra tòa lần này, cùng với 20 tên sinh viên là cán bộ Thành đoàn Cộng sản khác, để thổi bùng lên một cao trào đấu tranh mới.
Đúng vậy, đợt đấu tranh này nổ ra hết sức sôi nổi, kéo dài hơn một tháng rưỡi, lôi kéo nhiều giới:
Trên mặt trận chính trường, có các tai to mặt lớn nhào vô ăn có như:
Các luật sư danh tiếng: Vũ Văn Mẫu, Vũ Văn Huyền, Bùi Chánh Thời, Bùi Tường Chiểu, Nguyễn Long...
Các Dân biểu thân Cộng, hoặc thiên tả: Hồ Ngọc Nhuận, Phan Xuân Huy, Ngô Công Đức, Hồ Văn Minh, Hồ Ngọc Cứ, Kiều Mộng Thu, Nguyễn Văn Binh…
Các giáo sư: Lý Chánh Trung, Châu Tâm Luân, Trần Thị Tỵ, Nguyễn Văn Trung, Trần Tuấn Nhậm…
Các báo: Đối Diện, Tin Sáng, Tia Sáng, Đại Dân Tộc, Đuốc Nhà Nam, Dân Chủ Mới…
Tranh đấu hăng hái nhất là 2 ông Gs. Lý Chánh Trung và Lm. Nguyễn Ngọc Lan.
Đang khi đó, ngoài đường phố diễn ra mặt trận sôi sục khác giữa nhân viên công lực và một số thành phần. Qúy độc giả thử tưởng tượng xem thành phố Sài Gòn, trong những ngày này, rối loạn như thế nào theo sự mô tả của Gs. Lý Chánh Trung: “Suốt tuần qua, trung tâm thành phố Sàigon đã biến thành một bãi chiến trường nho nhỏ để cho mấy ông Triệu tử Long nho nhỏ mặc sức tung hoành:  Đông hốt sinh viên, Tây đập phế binh, Nam phá tuyệt thực, Bắc chận biểu tình…Kết quả thiệt là ngoạn mục: Khói lựu đạn cay mịt mù trước Dinh Độc Lập, hàng rào kẽm gai chằng chịt trên các nẻo đường, như những tràng hoa tang tóc nền dân chủ”. (Lý Chánh Trung. Những Ngày Buồn Nôn. đối diện, 1971. Bài 6 Khóc Đi Con viết ngày 13.4.1970. Trang 40).
“SVHS đã cạo đầu, đã tuyệt thực trong nhà trường, trên vỉa hè, trước Quốc hội, đã bãi khóa có hạn định và vô hạn định, và trích máu viết huyết lệ thơ, đã họp Đại hội trong Đại học và ngoài công viên, đã biểu tình ngồi, biểu tình đi, biểu tình đứng, biểu tình chạy…và đã hưởng cả ngàn trái lựu đạn cay do Hoa kỳ viện trợ. Các vị lãnh đạo tinh thần đã lên tiếng, các giới đồng bào đã lên tiếng, cho đến cái Hội đồng tôn giáo hiền lành cũng đã lên tiếng. các Đại học và Trung học miền Trung, miền Tây đã tích cực tham gia cuộc tranh đấu của SVHS Sàigon. Cho tới cái tỉnh Vĩnh Bình xa xôi nhỏ bé của tôi mà cũng gửi lên được bản kiến nghị của 31 giáo chức” (Lý Chánh Trung. Những Ngày Buồn Nôn. Bài 7 Chánh Nghĩa Đã Thắng Một Phần viết ngày 20.4.1970. Trang 49)

Xin nhấn mạnh điều này: thành phần sinh viên học sinh thuần túy tham dự vào những cuộc tranh đấu chống phá này rất ít. Khối đa số sinh viên thầm lặng có khuynh hướng quốc gia chỉ lo học hành, không thích Cộng sản, nhưng rất thụ động. Họ rất ít quan tâm tới những cuộc tranh đấu, phá phách ngoài đường phố. Trong dĩ vãng, chỉ những cuộc xuống đường mang màu sắc đấu tranh vì tôn giáo, vì văn hóa hoặc vì đồng bào Việt Nam bị tàn sát bên Campuchia, mới có nhiều sinh viên, học sinh thứ thiệt tham gia…
Thí dụ: Vụ sinh viên, học sinh xuống đường đi dự đám tang nhà văn Nhất Linh để chống Tổng thống Ngô Đình Diệm (1963). Có thể coi vụ này là do động lực văn hóa vì Nhất Linh là thủ lãnh của Tự Lực Văn Đoàn.  Rồi tiếp tục xuống đường chống Tổng Thống Ngô Đình Diệm, lấy lí do Tổng thống “đàn áp Phật giáo” (1963).
Thời tướng Nguyễn Khánh nắm quyền, sinh viên học sinh xuống đường chống Hiến chương Vũng Tầu (Tháng 8.1964). Thời gian đầu mới nắm quyền, Tướng Khánh bị tố là “Cần lao ngóc đầu dậy!”.
Đến khi Cụ Trần Văn Hương làm Thủ tướng (04.11.1964), sinh viên, học sinh lại xuống đường vì “Ông già gân” không chịu để mấy thầy làm áp lực.  Cụ Hương từng phát biểu: “ Bọn đầu trọc làm trò khỉ. Tôi không thể để cho bọn con nít làm loạn!”….
Có một thời, nhiều người ở miền Nam sợ tôn giáo của mình bị “đàn áp ?” còn hơn là sợ Cộng sản. Nhưng vừa khi phong trào Phật giáo nổi lên, lãnh đạo Cộng sản đã mau mắn chớp lấy thời cơ. Họ ra lệnh cho các cấp thừa hành trà trộn vào phong trào để lái đi theo mục tiêu của họ. Tình hình này gây nên biết bao gian nan và tai tiếng cho các lực lượng hữu trách của VNCH. Sách Trui Rèn Trong Lửa Đỏ của Thành đoàn Cộng sản viết: “Khu ủy ‘coi Phật xuống đường’. Ban cán sự thanh niên sinh viên học sinh, Đoàn ủy sinh viên lãnh đạo lực lượng của mình ‘tấp vô với Phật xuống đường’. Lực lượng của các cánh các ngành cũng ‘tấp vô’! Một thời cơ trong cơn bão táp loạn xạ…Những đảng viên, đoàn viên, nòng cốt, cảm tình cách mạng của Ban Cán sự thanh niên ‘tấp vô’ mang màu áo Phật tử giáo dục, hướng dẫn quần chúng, tranh thủ phát triển nhanh thực lực cách mạng khắp trường học, khu xóm. Thực lực càng phát triển càng ‘tấp vô’ tranh thủ, lôi kéo, hướng dẫn từng nhóm, từng bộ phận của phong trào theo mục tiêu đấu tranh của cách mạng” (
Hoàng Hà. Bài Theo Dấu Chân Một Cuộc Hành Trình. Trui Rèn Trong Lửa Đỏ. NXB Trẻ, 2005.Tái bản 1. Trang 481).
Cuối cùng là vụ sinh viên xuống đường phản đối chính quyền Lonnol vì đồng bào  Việt Nam bị thảm sát hàng loạt bên Campuchia (4.1970).  Khởi đầu, có nhiều sinh viên thuần túy tham gia, nhưng khi các sinh viên Việt Cộng hô hào chiếm đóng và “cố thủ” trong Tòa Đại sứ Campuchia ở đường Lê Văn Duyệt, thì khối sinh viên thuần túy không tham gia nữa.
Trên thực tế, đa số các sinh viên, học sinh xuống đường hồi 1970 mà Gs.Lý Chánh Trung nói đến trên đây đều là các Đoàn viên (Đoàn thanh niên cách mạng HCM) hoặc Hội viên (Hội liên hiệp thanh niên, sinh viên, học sinh giải phóng), các “quần chúng tốt”, các cảm tình viên, các sư nữ thuộc Tịnh xá Ngọc Phương của Ni sư Huỳnh Liên, các thanh niên, sinh viên trú ngụ bất hợp pháp tại Cư xá sinh viên Minh Mạng (do Chủ tịch Ban Đại diện sinh viên cư xá là Huỳnh Tấn Mẫm chứa chấp, để huy động họ vào các cuộc tranh đấu chống chính phủ), các tay du thủ du thực được thuê mướn, các “ba, má” phong trào và một số khá đông những tay vô công rỗi nghề, cứ thấy đông vui là tò mò, hiếu kì nhào vô tham gia! Nhìn qua các thành phần này, thấy ngay họ đều là sinh viên học sinh Việt Cộng hoặc thân Cộng; ngoài ra là các thành phần ngoài Đại học và du đãng. Cuộc biểu tình nào cũng y chang là những người này. Với thành phần như thế, làm gì có chuyện họ “vì lương tâm trí thức mà xuống đường tranh đấu cho nhân quyền” như những lời đối đáp của ông Vũ Sinh Hiên và Lm. Chân Tín trong cuộc phỏng vấn.
Không phải vì các cơ quan có trách nhiệm thiếu bằng chứng để kết tội các sinh viên Việt Cộng, không phải vì những cuộc tranh đấu xuống đường phá rối trị an, mà vì áp lực nặng nề của quốc tế, của phong trào phản chiến bên Âu Mĩ gây ảnh hưởng sâu sắc tới chính trường Mĩ, khiến cho chính quyền VNCH bất đắc dĩ phải chấp nhận giải pháp thoa dịu dư luận. Nhà văn Đào Hiếu, xưa là sinh viên Việt Cộng, bạn chiến đấu của Huỳnh Tấn Mẫm, đã nhìn nhận trong cuốn tự truyện Lạc Đường của ông ta như sau: “ Vụ Huỳnh Tấn Mẫm kết thúc sau những cuộc xuống đường, tuyệt thực… của đồng bào các giới: học sinh, sinh viên, công nhân, đồng bào Phật tử… Chính quyền Thiệu biết rõ mười mươi một số học sinh sinh viên (trong đó có Huỳnh Tấn Mẫm) là đảng viên cộng sản nhưng họ vẫn phải trả tự do cho những người bị bắt. (Đào Hiếu. Lạc Đường. Chương 4 Trận Đánh Không Báo Trước” (
daohieu.com).
Đúng vậy, ngày 20.4.70, Tòa án Quân sự Mặt trận Vùng 3 đã thả 10 tên.  Trong đó có Cao Thị Quế Hương, Đỗ Hữu Bút, Võ Ba, Trương Hồng Liên….  Ngày 13.6.70, thả thêm 6 tên nữa.  Trong số đó có các đảng viên Huỳnh Tấn Mẫm, Dương Văn Đầy, Trầm Khiêm…  Khiêm và Đầy là Đoàn ủy Sinh viên thuộc Thành Đoàn. Chỉ giữ lại 5 tên: Nguyễn Ngọc Phưong (Bí thư Đoàn ủy sinh viên), Nguyễn Tấn Tài, Nguyễn Thanh Công, Lê Văn Hoa, Nguyễn Văn Sơn (sẽ thả khi trao đổi tù binh 1973).
Thành đoàn CS đánh giá vụ này là một thắng lợi lớn, vì đã tạo ra được sự bất ổn liên tục ngay tại Thủ đô Sài Gòn và gây xúc động trong nước, nhất là dư luận quốc tế.
Thắng lợi của Thành đoàn Cộng sản lần này, phần lớn, là nhờ vào một nhóm phần tử được VNCH ưu đãi ở Thủ đô, trong đó tạp chí Đối Diện của Lm.Chân Tín đóng góp “công lao” rất lớn!  Có thể nói không sai: nhóm này ăn cơm quốc gia thờ ma Cộng sản!
Sau đó, hàng chục tổ chức đấu tranh khác lần lượt xuất hiện, trong đó có: 
Ủy ban Vận động Cải thiện Chế độ Lao tù do Lm. Chân Tín làm Chủ tịch.
Phong trào Phụ nữ đòi quyền sống do Ls. Ngô Bá Thành làm Chủ tịch.
Lực lượng Quốc gia tiến bộ.  Ls. Trần Ngọc Liễng làm Chủ tịch…
●  “Cộng sản lợi dụng cuộc đấu tranh đó”
Về điểm này, Lm. Chân Tín nói đúng. Cộng sản vốn qủy quyệt, đã lợi dụng được sự ngây thơ, háo danh, hiếu động của mấy ông.
Người quốc gia có một điểm yếu là quá tôn trông mấy ông mặc áo thầy tu. Khổ nỗi, có một số ông thầy tu thích dây dưa vào chuyện chính trị đầy xảo quyệt, gian ác, cho nên bị lợi dụng một cách dễ dàng. Các ông ấy học mãi mà không thuộc những bài học lớn về Mặt trận Việt Minh, Mặt trận Giải phóng miền Nam, Mặt trận tổ quốc… Để chiếm miền Nam, CSBV còn mở ra nhiều mặt trận nhỏ hơn và đủ loại phong trào, đủ loại ủy ban: Mặt trận văn hóa, mặt trận Đại học, mặt trận tôn giáo (điển hình là cuộc ‘Biến Động Miền Trung’)…, Phong trào Đòi quyền sống, Hát cho đồng bào tôi nghe, Ủy ban Vận động Cải thiện chế độ lao tù, ….
Thực tế phũ phàng là, khi thắng lợi rồi, CSBV thẳng tay dẹp hết những màn tuồng ấy, kể cả Mặt trận Giải phóng miền Nam, không thương tiếc!
Xin lấy vài thí dụ:
Trương Như Tảng được bên Quốc gia trọng dụng mà vẫn bỏ đi theo Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (MTGPMN), được ban cho chức Bộ trưởng Tư pháp “dỏm”.  Vừa sau 30.4.1975, ngồi coi ‘diễu binh’, Trương Như Tảng hỏi: “Sao những sư đoàn của MTGPMN đâu rồi?’.  Đại tướng CSBV Văn Tiến Dũng cười mỉa mai và trả lời: ‘Quân đội đã thống nhất rồi”! (Trần Viết Đại Hưng. Ngây Thơ Chính Trị. (
vn.360plus.yahoo.com). Cuối cùng, năm 1985, Trương Như Tảng phải đào thoát sang Pháp.  Ở đó, ông ta viết hồi ký A Vietcong Memoir kể chuyện đời tan nát!
Bs.Dương Quỳnh Hoa cũng bỏ Sài Gòn vào bưng, được chân Bộ trưởng Y tế. Cũng sớm vỡ mộng.  Cuối thập niên 70, bà ta than với Nguyễn Hữu Thọ: “Anh và tôi chỉ đóng vai trò bù nhìn và chỉ là món đồ trang sức rẻ tiền cho chế độ. Chúng ta không thể phục vụ cho một chế độ thiếu dân chủ và không luật lệ. Vì vậy tôi thông báo cho anh biết là tôi sẽ trả lại thẻ Đảng và không nhận bất cứ nhiệm vụ nào trong chính phủ cả”. (Ts. Mai Thanh Truyết. Cuộc đời và cái chết rất buồn của Bs. Dương Quỳnh Hoa. Bộ trưởng Y tế và thương binh xã hội của Chính phủ CMLT. Tintuchangngay.info)
Gs. Lý Chánh Trung hưởng bao nhiêu bổng lộc Quốc gia cũng cúc cung tận tụy làm công cụ cho Việt Cộng.  Sau khi thắng lợi, Cộng sản cho ông một lô chức tước, nhưng tất cả đều hữu danh vô thực: Phó Hội trí thức yêu nước Thành phố, Đại biểu Quốc hội, Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc VN Thành phố, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc VN.
Rồi cái gì phải tới đã tới:  Đến năm1989, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh viết thư nói thẳng thừng với Gs. Lý Chánh Trung rằng trước đây ông là ‘đồng chí’ nay ông “làm cản trở sự nghiệp xây dựng đất nước của ta”. Bị gõ đầu, Gs. Lý Chánh Trung đành phải nhìn nhận: “Quả là bây giờ có sự đổi mới rồi, chứ nếu không, thì mình bị “ lấy mất cái đầu đi rồi” đấy!  (Đoàn Thanh Liêm.  Nỗi Khó Xử của Gs. Lý Chánh trung. 
baotoquoc.com).
Gs. Nguyễn Văn Lục, rất quen biết Gs. Lý Chánh Trung, kể về ông giáo sư họ Lý như sau: “Ông có mấy đứa con trai đều là đảng viên, vào bộ đội và sau đó đi học sĩ quan lên đến Đại úy. Bữa đó có ông Lê Đức Anh từ Hà Nội vào nói chuyện với các cấp sĩ quan từ cấp đại úy trở lên. Chẳng biết thế nào, ông Lê Đức Anh có nhận xét về giới trí thức miền Nam, trong đó hài tên ông ra và nói: Lý Chánh Trung chỉ là một tên trí thức chống Cộng ranh ma. Con ông ngồi dưới nó tức khí vì chửi ba nó. Trong một phút nóng giận, bốc đồng nó đã chửi lại: Đù má mày Lê Đức Anh, mày nói bậy. Nói xong, thằng nhỏ bỏ đi ra ngoài cái một. Sau đó nó đã không bị tù tội gì cả. Nghe xong câu chuyện vui này chúng tôi đều cười hả hê. Và ông quay qua tôi nói đùa: nhớ về đừng viết báo nhé. Thật ra thì câu chuyện này được lan truyền ra ngoài đến ai cũng biết. Vì thế, câu chuyện này bạn đọc cứ coi như là câu chuyện cũ mèm làm quà bên lề cho những ai chưa biết”. (Nguyễn Văn Lục. Về Những Người Tôi Đã Biết II. DCVOnline.net).
Một trong số những trí thức miền Nam chống đối hàng đầu lúc đó là Lm. Thanh Lãng, Trưởng Ban Văn chương Việt Nam tại Văn khoa Đại học Sài Gòn. Ông viết báo chống chính quyền; với tư cách Chủ tịch Văn bút Việt Nam, ông đòi chính quyền thả tên nhà văn Việt Cộng Vũ Hạnh; ông nổi bật trong “Ngày kí giả đi ăn mày”; ông hung hăng trong vụ đuổi Đức Khâm Henri Lemaitre và vụ chống Đức Giám mục Nguyễn Văn Thuận về làm Tổng Giám Mục phó Sài Gòn.
Nhưng đến cuối đời, Lm. Thanh Lãng đã thành khẩn sám hối, làm cho tất cả mọi người thiện tâm phải mủi lòng và cầu cho linh hồn ông được nghỉ yên muôn đời!
Gs. Nguyễn Văn Lục, em Gs. Nguyễn Văn Trung, trong bài Tổng Giám mục Nguyễn Văn Thuận Nguyên Nhân 13 Năm Lưu Đầy Khổ Nhục, đã công bố một phần bản di chúc13 trang của Lm. Thanh Lãng trao cho Gs. Nguyễn Văn trung, nguyên văn như sau:  “Tôi xin công khai sám hối với Chúa và Hội thánh Toàn cầu và Việt Nam. Lạy Chúa xin tha thứ cho con mọi lầm lẫn và ban cho con lòng tin, lòng trông cậy và ơn tha thứ.
Tôi xin công khai sám hối xin lỗi Đức cha Nguyễn Văn Thuận, xin Chúa giữ gìn và trả công cho Đức cha.
Tôi xin công khai sám hối xin lỗi tất cả và tình anh em linh mục mà tôi vô tình hay cố ý, làm mất lòng.
Tôi xin công khai và xin lỗi toàn thể dân Chúa mà tôi hối tiếc là chưa được phục vụ trong Mục vụ.
Tôi xin mọi người tha tội cho tôi để Hội Thánh và Chúa tha tội cho tôi”.
Ngày 28-11-1988, Đinh Xuân Nguyên, Thanh Lãng” (DCVOnline.net).
Lm. Thanh Lãng qua đời ngày 17.12.1988.
Và còn nhiều tên tuổi khác cũng đã trắng mắt ra, như:  Gs. Châu Tâm Luân, Ni sư Huỳnh Liên và các đệ tử hệ phái tịnh xá Ngọc Phương của bà (xin xem bài Còn Giới Hạn Nào Cho Sự Sa Đọa của tác giả Lê Tùng Châu trên Việt Báo 27.3.2006, đính kèm nguyên văn Đơn Khiếu Nại về việc chính quyền Tỉnh Lâm Đồng vừa cướp đất chùa vừa có những lời lẽ hết sức vô giáo dục đối với các ni sư. Lá đơn kí tên Ni sư Tràng Liên và Ni sư Ngoạt Liên ngày 01.01.2005), v.v….Riêng Gs. Nguyễn Ngọc Lan, chúng tôi đã viết một bài về ông, nhan đề Về Nhân Vật Nguyễn Ngọc Lan (
motgoctroi.com).
Trong hồi ký Đêm Giữa Ban Ngày, tác giả Vũ Thư Hiên không ngần ngại phát biểu: “Trẻ con miền Bắc cũng biết Mặt trận Giải phóng là do miền Bắc dựng nên” (trang 469). Thế mà có khá nhiều trí thức miền Nam đã bị lừa gạt nhục nhã, thê thảm!
● “Tôi quan niệm rằng có bất công dù ở chế độ nào thì tôi cũng lên tiếng vì đó là sứ mệnh ngôn sứ tôi đã lãnh nhận”.
Lm. Chân Tín nói hay và lí tưởng lắm. Bây giờ nghe ông nói như vậy, người ta   tưởng ông sẵn sàng thi hành ‘sứ mệnh ngôn sứ’ bất kể thời nào, bất kể đâu.  Nhưng trên thực tế, hồi đó, ông chỉ nhìn cuộc chiến Việt Nam bằng một con mắt, nghĩa là ông đui mất một con mắt. Báo Đối Diện của ông khuếch đại những “cái dằm” sai trái của VNCH để tố cáo, đang khi đó lại không nhìn thấy vô số những “cái xà” tội lỗi lớn lao của Cộng sản. Vậy mà dám nói “dù ở chế độ nào thì tôi cũng lên tiếng”.
Báo Đối Diện của Lm. Chân Tín chẳng những không nói gì tới những tội ác do Cộng sản gây ra ở cả hai miền Nam Bắc, mà còn công khai phổ biến những bài viết đề cao Cộng sản, cổ vũ sách lược “giài phóng” miền Nam của Cộng sản. Chẳng hạn như các bài:  Bài Học Cách Mạng Của Lênin (Đối Diện, 12.1970); Diễn Tiến Cuộc Xây Dựng và Phát Triển Chính Sách Thực Dân Mới Của Mỹ Tại Việt Nam (Đối Diện, 8.1971); Lm.Trương Bá Cần viết bài ‘25 Năm Xây Dựng Xã Hội Chủ Nghĩa Ở Miền Bắc’, đăng 3 kì vào năm 1971; Khái Niệm Về Chủ Nghĩa Thực Dân Mới (Đối diện, 6.1972); Diễn Tiến và Ý Nghĩa Của Cách Mạng Tháng Tám (Đối Diện, 8.1972); Miền Bắc Có Gì Lạ (Đối Diện, 2.1974)….
Ngoài thành phần cơ hữu như các linh mục thiên tả Nguyễn Ngọc Lan, Trương Bá Cần, Trần Tam Tỉnh, Nguyễn Nghị, Nguyễn Viết Khai…, báo Đối Diện của Lm. Chân Tín còn phổ biến bài vở của nhóm thân Cộng miền Trung như: Ngô Kha, Bửu Chỉ, Trần Phá Nhạc, Thái Ngọc San, Tiêu Dao Bảo Cự, Lê Gành…
Trong khi trả lời phỏng vấn, Lm. Chân Tín còn nói ông đã cùng Lm. Nguyễn Huy Lịch (Dòng Đa Minh, chi Lyon) điều tra và biết đích xác bọn sinh viên Việt Cộng bị tra tấn cho nên ông và báo Đối Diện phải tranh đấu bảo vệ họ.  Lm. Chân Tín lại toan lấy thúng úp voi chăng. Linh mục sinh sống và hưởng mọi quyền công dân ở miền Nam, mà miền Nam đang bị Cộng sản Bắc Việt tấn chiếm, đương nhiên miền Nam phải chiến đấu tự vệ. Quyền tự vệ là quyền thiêng liêng. Không ai nói đi xâm lăng, đi ăn cướp là quyền thiêng liêng bao giờ cả. Chính ra linh mục phải hiểu rõ hơn ai hết rằng CSBV là kẻ gây nên cuộc chiến thì là kẻ vi phạm nhân quyền đầu tiên và nặng tội nhất. Và trong cuộc chiến lâu dài này, Cộng quân đã phạm không biết bao nhiêu tội và đã giết hại hàng trăm hàng ngàn dân lành bằng cách chém đầu, cắt cổ (Đồng khởi Bến Tre 1958), chôn sống (Mậu Thân Huế 1968), Đại lộ Kinh hoàng Quảng Trị 1972, pháo kích bừa bãi, thậm chí pháo kích cả vào các trường tiểu học giết chết hàng chục học sinh nhỏ dại (Trường Tiểu học Cai Lậy và Song Phú)…
Công bình mà nói, tra tấn để ép cung là trái với luật pháp văn minh, nhưng vì VNCH đang phải chiến đấu tự vệ chống CSBV, thiết tưởng Lm. Chân Tín cần đặt vấn nạn này trong bối cảnh toàn cục cuộc chiến khốc liệt mà cân đo đong đếm, thì mới thấy linh mục nên bênh vực ai và tố cáo ai.  Bởi vì nếu có vài mươi tên sinh viên Việt Cộng bị tra tấn thật sự đi chăng nữa cũng còn kém xa gấp ngàn lần so với những tội ác giết dân lành của Việt Cộng. Và nếu nói cần phải đấu tranh bảo vệ nhân quyền cho sinh viên thì Lm. Chân Tín và báo Đối Diện phải tố cáo nhiều nhất và trước tiên các tội ác của bọn sinh viên Việt Cộng vì chúng đã giết thầy giết bạn một cách tàn ác, ngay tại trường học hoặc giữa thanh thiên bạch nhật, ở Sài Gòn cũng như hồi Tết Mậu Thân ở Huế 1968  (Mời đọc bài Bọn Sinh Viên Việt Cộng Giết Thầy Giết Bạn của Bạch Diện Thư Sinh. Motgoctroi.com. Mục Lịch sử Cận đại).
Trên thực tế, báo của Lm. Chân Tín đã một chiều đả kích VNCH là kẻ tự vệ, đang khi bênh vực, bao biện cho Cộng sản là kẻ gây chiến, là kẻ phạm muôn vàn tội ác. Thử hỏi, như thế công bình, công lí ở đâu? Chưa có công bình, công lí thì làm gì có nhân đạo, nhân quyền?
Đấy là chưa nói tới bọn Cộng sản là thầy phù thủy chuyên thay trắng đổi đen, không nói có, có nói không. Mắt thường và ống kính của các kí giả nhìn thấy cảnh những tên sinh viên Việt Cộng dìu nhau ra tòa, dáng điệu thiểu não mà đã vội kết luận là chúng bị đối xử tàn ác.  Có thể chỉ đúng một phần, còn nhiều phần là chúng bảo nhau diễn kịch để gây xúc động cho dư luận.
Trong bài 20 Năm Giới Trẻ Miền Nam, Gs. Nguyễn Văn Lục nêu lên một câu hỏi chua chát: “ Những người cộng sản thứ thiệt như Huỳnh Tấn Mẫm thì được mọi người tìm cách đòi thả tự do. Lý Chánh Trung và những người khác xuống đường, tuyệt thực đòi trả tự do cho Mẫm? Sao không thấy một ai trong cái đám đó sau 1975, đòi trả tự do cho Thi sĩ Vũ Hoàng Chương?” (Nguyễn Văn Lục. 20 Năm Giới Trẻ miền Nam Việt Nam. Motgoctroi.com).
Để mô tả cung cách hành xử của Lm. Chân Tín cụ thể hơn, xin thử đặt Lm. Chân Tín làm một thành viên trong gia đình của ông Nam. Mọi người trong nhà ông Nam đang sống bình an, vui vẻ. Bỗng có một ngày, người anh em sinh đôi của ông Nam là ông Bắc cầm đầu lũ con cháu ngổ ngáo, hùng hổ xông vào nhà ông Nam để cướp của, giết người và đòi chiếm luôn nhà của ông Nam. Ông Bắc bảo làm thế là để “giải phóng” cho nhà ông Nam khỏi bị “Mĩ ngụy kềm kẹp”!  Người nhà ông Nam đương nhiên phải chiến đấu tự vệ.  Lm. Chân Tín là người nhà ông Nam, chẳng những không cùng người nhả chống trả, không tố cáo kẻ cướp và kêu gọi hàng xóm tiếp tay giúp đỡ cho gia đình mình; ngược lại, linh mục còn la lối om xòm và một chiều tố cáo ngược lại nạn nhân là chính người nhà mình! Chuyện có vẻ ngược đời, nhưng đó đúng là lối hành xử của Lm. Chân Tín hồi trước 1975. Lối hành xử như thế mà gọi là hòa bình công lí sao? Có giáo thuyết đáng kính nào truyền dậy “sứ mạng ngôn sứ” lạ lùng như vậy bao giờ không?  Đó chỉ có thể là hành động nối giáo cho giặc mà thôi.
● “Sau khi Cộng Sản chiếm miền Nam, tôi tiếp tục đấu tranh, chống chế độ Cộng Sản”
Trước 1975, Lm. Chân Tín làm Chủ nhiệm báo Đối Diện tiếp tay cho Cộng Sản, chống chính phủ VNCH, tức lúc đó ông không chống Cộng sản, sao nói là “tiếp tục đấu tranh, chống chế độ Cộng sản”? Và sau khi Cộng sản chiếm được miền Nam rồi, trong thời gian khoảng 2 năm, Lm. Chân Tín và cố Gs. Nguyễn Ngọc Lan cùng đám đệ tử của hai ông, vẫn còn ve vãn chúng.  Đến khi CS đá các ông ra rìa, chỉ dùng “nhóm 4 anh em chúng tôi Minh-Cần-Từ-Bích” thôi (đó là 4 linh mục Huỳnh Công Minh, Trương Bá Cần, Phan Khắc Từ, Vương Đình Bích). Chỉ khi đó, ông và Gs. Nguyễn Ngọc Lan mới bắt đầu quay ra chống Cộng sản.  Gs. Nguyễn Văn Trung, cựu Khoa trưởng Văn khoa Đại học Sàigòn, không xa lạ gì với giới trí thức Sàigòn trước 1975, đã nhận xét về Lm.Chân Tín như sau: “Linh mục Chân Tín khi làm chủ nhiệm báo Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp chống Cộng rõ rệt, nhưng khi làm tạp chí Đối Diện thay đổi lòng chuyển sang CHỐNG CHỐNG CỘNG …Bây giờ linh mục lại chống Cộng”! (Nguyễn Văn Trung. Đôi điều trao đổi với nhà văn Mai Kim Ngọc. Văn Học số 124, Tháng 8, 1996. Trang 67).
● “Dù sao, tôi rất thông cảm với những người, đặc biệt là những anh em, những công chức của chế độ Việt Nam Cộng hòa đã bị Cộng sản hành hạ, bắt bớ, tù đày.  Tôi mong anh em hiểu rằng tôi không bao giờ theo Cộng sản”.
Chúng tôi, quân cán chánh VNCH, không muốn nhận sự ‘thông cảm’ của Lm. Chân Tín. Chúng tôi chiến đấu vì tự do cho Miền Nam. Bảo vệ miền Nam là bổn phận của chúng tôi. Biết bao chiến sĩ và đồng bào miền Nam đã ngã xuống trong cuộc chiến bảo vệ miền Nam.  Đến khi “nước mất thì nhà tan”, thì “khốn cho kẻ bại trận!”, thì bị sát hại, bị bắt bớ, bị tù đày.. . Nhiều người thoát thân, suốt đời còn lại, mang mặc cảm tội lỗi với chiến sĩ, đồng bào. Đến nỗi, có vị tướng lãnh cảm thấy mình không xứng đáng được phủ Quốc kì VNCH lên quan tài khi nằm xuống: “Mai tôi chết Cờ Vàng xin đừng phủ, Xác thân này đâu chết cho quê hương...” (Hai câu đầu trong bài thơ Mai Tôi Chết Cờ Vàng Xin Đừng Phủ của Tướng Lê Quang Lưỡng, Cựu tư lệnh Sư đoàn Nhảy Dù kiệt xuất. 
OCGroupForum@yahoogroups.com). Sau 30.4.1975, hết chiến tranh rồi, thế mà hàng trăm ngàn quân cán chính VNCH vẫn bị tù đầy không xét xử và vô thời hạn, thì đâu rồi Lm. Chân Tín, Chủ tịch của Ủy ban Vận động Cải thiện Chế độ Lao tù miền Nam Việt Nam?  Trước 1975, Lm. Chân Tín tích cực tranh đấu cho tù nhân Việt Cộng; sau 30.4.1975, ông chỉ “thông cảm” với “những anh em, những công chức của chế độ Việt Nam Cộng Hòa đã bị Cộng sản hành hạ, bắt bớ, tù đày” mà thôi!
Cái mà chúng tôi muốn không phải là sự “thông cảm” của Lm. Chân Tín mà là một lời xin lỗi nước Việt Nam Cộng Hòa của ông. Bởi vì ngày xưa, đang khi hàng trăm xe tăng, đại bác cùng mấy trăm ngàn bộ đội CSBV tràn vào dầy xéo miền Nam tự do, gây nên cảnh núi xương, sông máu thì Lm. Chân Tín cùng mấy ông tu sĩ, trí thức và bọn Việt Cộng nằm vùng, bọn thân Cộng, bọn khuynh tả lại chắp tay nguyện cầu cho chim bồ câu trắng xuất hiện; các ông chống và bôi lọ chính phủ và cuộc chiến đấu tự vệ của quân dân VNCH; các ông đòi hoà bình tức khắc; các ông lên án và tố cáo chính phủ VNCH bắt bớ, đàn áp sinh viên…
Có thể đúng, Lm. Chân Tín không bao giờ là Cộng sản, nhưng nói ông “không bao giờ theo Cộng sản” thì không đúng . Giá như Lm. Chân Tín là Việt Cộng thì dễ cho chúng tôi phân rõ bạn thù, phân rõ chiến tuyến. Trong trường hợp đó, linh mục là đối thủ của chúng tôi và cõ lẽ không đáng khinh. Phiền một nỗi, linh mục lại nằm trong số những kẻ ăn cơm quốc gia thờ ma Cộng sản, trở thành kẻ nội thù, kẻ nối giáo cho giặc, kẻ theo đóm ăn tàn. Thế mới nguy hiểm và đáng khinh.
Sau 30.4.1975, Lm. Chân Tín được đưa vào Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Mặt trận Tổ quốc Thành phố HCM (Sai Gòn).  Và để màn tuồng bầu cử Quốc hội Cộng sản “thêm phần vui vẻ”, Lm. Chân Tín được Mặt trận tổ quốc cho ra tranh cử đại biểu Quốc hội CS khóa 6, đơn vị Quận Tân Bình.  Có lẽ theo tính toán của Cộng sản trong thời điểm ấy, tiêu chuẩn chỉ có 1 linh mục Công giáo tại Sài Gòn được làm đại biểu Quốc hội. Trên thực tế, Cộng sản đã chấm định Lm. Huỳnh Công Minh làm đại biểu khóa này rồi thì đương nhiên Lm. Chân Tín phải thất cử.
Rồi đến lượt báo Đứng Dậy (tức Đồng Dao, ĐD, Đối Diện) bị đình bản, sau khi ra số cuối cùng 114 vào Tháng 12.1978, vì lí  do “đã hoàn thành nhiệm vụ”!
Từ đó, Lm. Chân Tín vỡ lẽ ra. Ông và đàn em thân thiết của ông là Gs. Nguyễn Ngọc Lan quay ra chống Cộng! Gs. Nguyễn Ngọc Lan viết 3 tập Nhật Ký: Nhật Ký 1988, Nhật Ký 1989-90, Nhật Ký 1990-91, đều do Tin Nhà, Paris, xuất bản. Ngày 05.8.1990, Gs. Nguyễn Ngọc Lan bị Công an tới xét nhà và đọc lệnh quản thúc ông 3 năm tại gia.
Mùa Chay Tháng 4.1990, Lm. Chân Tín giảng 3 bài Sám hối. Chỉ hơn một tháng sau, ngày 16.5.1990, ông bị xử phạt 3 năm phát vãng ra xã Cần Thạnh, Cần Giờ, vì các lí do: chống CNXH, chia rẽ nội bộ tôn giáo, phá hoại đoàn kết đạo đời, gửi tài liệu ra nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân.
Ngày 12.5.1993, Lm. Chân Tín được thả về vô điều kiện.
Tuy được thả về, giọng điệu của Lm. Chân Tín càng ngày càng cay cú hơn. Ngày 28-1-1996, Lm. Chân Tín trả lời phỏng vấn đài VNCR, ông nói:’’ Chúng tôi ngồi yên nhìn cái ngu dốt và cái sa lầy của một chế độ đang trên đà tan rã’’.
Như bát nước đầy, Cộng sản không kể gì tới công lao của Lm. Chân Tín và Gs. Nguyễn Ngọc Lan trước đây nữa, họ ra quyết định thanh toán hai ông (từ chết đến bị thương). Ngày 04.5.1998, trên đường đi dự đám tang cựu đảng viên gộc đã phản tỉnh Nguyễn Văn Trấn bằng xe gắn máy, Lm. Chân Tín và Gs. Nguyễn Ngọc Lan đã bị mưu sát bằng cách cho người kè theo xe và đạp 2 ông té giữa đường. Lm. Chân Tín chỉ bị xây xước nhẹ, nhưng Gs. Nguyễn Ngọc Lan bị thương nặng. May mắn, cả hai thoát chết.
Quan sát những hành động lúc sau này của cặp Lm. Chân Tín – Gs. Nguyễn Ngọc Lan, tuy không thấy hai ông nói ra lời xin lỗi nước VNCH mà hai ông đã hung hăng đánh phá, nhưng chúng tôi “lạc quan” tin là có lẽ hai ông đã “phản tỉnh” cho nên đã viết như sau trong phần cuối bài Về Nhân Vật Nguyễn Ngọc Lan (
motgoctroi.com. Mục Lịch sử cận đại): “Mùa chay 4/1990, tại nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế, đường Kỳ Đồng, Lm. Chân Tín đã giảng 3 Bài Giảng Sám Hối: Sám Hối Cá Nhân, Sám Hối Trong Lòng Giáo Hội, Sám Hối Trong Lòng Dân Tộc.
Mở đầu bài giảng Sám Hối Cá Nhân, Lm. Chân Tín nói ngay: “Nói đến sám hối là tôi nghĩ đến tôi trước nhất”. Nói thế, nhưng ông không chính thức nói lời sám hối về những hoạt động có lợi cho Cộng Sản của ông trước đây. Ông không đủ can đảm nói lời xin lỗi nước VNCH và đồng bào miền Nam yêu tự do. Song ông đã dán tiếp nói lên tâm tình sám hối của ông bằng cách diễn giảng quan niệm sám hối “không phải đấm ngực khóc lóc…không phải chỉ có ân hận…”, nhưng “sám hối là đổi mới sau khi đã ân hận”. Có lẽ ông đã kín đáo ám chỉ bây giờ lời nói, hành động của ông đã khác trước, tức là ông đã đổi mới, chứng tỏ ông đã sám hối chăng? Lm.Chân Tín lặp lại quan niệm sám hối này trong bài giảng Sám Hối Trong Lòng Dân Tộc: “Chúng ta thấy Liên Xô và các nước Đông Âu đã ân hận, đã sám hối bằng cách đổi mới (Nguyễn Văn Trấn. Viết Cho Mẹ và Cho Quốc Hội. Tph. HCM. Trang 406)”.
Tiếc thay, chúng tôi đã lầm.  Trong Bài giảng Sám hối thứ nhất, Lm. Chân Tín có nói: “Nói đến sám hối là tôi nghĩ đến tôi trước nhất”, nhưng ông không cho biết đích xác ông định sám hối “tội lỗi” gì, “tội lỗi” đối với ai.  Sau này người ta mới biết rõ một điều là ông không hề sám hối việc ông đã góp phần “làm sụp đổ miền nam”.  Bởi vì, ngày 28.01.1996, khi đài VNCR hỏi Lm. Chân Tín rằng: “…linh mục có phải sám hối không, vì….những hoạt động của linh mục trước 75 có ảnh hưởng đến thành công của cộng sản trong việc làm sụp đổ miền Nam?”.  Lm. Chân Tín trả lời:  “...tôi cũng sám hối. Nhưng không vì đã hoạt động bảo vệ quyền con người trong chế độ cũ.  Chính chế độ cũ vi phạm nhân quyền, nên cộng sản mới lợi dụng những vi phạm ấy, lôi kéo dân chúng theo họ…!” (Tin Nhà số 23. Trang 18-21).
Mọi người thấy rõ, thời chiến, tuyệt đại đa số dân miền Nam sợ Cộng sản. Cộng sản tới đâu, dân chúng lập tức chạy thục mạng về phía Quốc gia. Chỉ một số rất ít trí thức, tu sĩ thành thị khuynh tả, thân Cộng và một số ít dân quê bị Cộng sản tuyên truyền dụ dỗ là đi theo họ. Nhưng sau khi Cộng sản chiếm trọn miền Nam một ít lâu, hầu hết những người này đã hối hận, nhưng không còn kịp nữa. Không còn kịp nữa, nhưng ít ra, họ đã hối hận: Có người dám nói lời xin lỗi; có người tự thú là đã ngây thơ; có kẻ vượt biên; có kẻ lặng lẽ rút lui khỏi giang hồ... Một mình Lm. Chân Tín vẫn hiên ngang với thành tích “bảo vệ nhân quyền trong chế độ cũ”!
KẾT
Hãy thôi không tản mạn chuyện chính trị của cuộc chiến Quốc - Cộng nữa, chẳng hạn như chuyện đâu là bạn, đâu là thù; đâu là kẻ gây chiến và đâu là kẻ chiến đấu tự vệ.
Hãy thôi không nói chuyện đạo đức chung chung của con người, tức cái đạo “nhơn giả nhân dã” (“nhơn từ ấy là đạo làm người vậy”). “Nhơn” (viết chữ nhân thêm 2 gạch ngang. Thiên Nhân Địa. Tam tài.) là cái gốc của nhân quyền, của tự do, bình đẳng…
Vì Lm. Chân Tín là một linh mục, cho nên xin thử học hỏi Đạo Yêu Thương của Đức Kitô với cụ đại lão linh mục Chân Tín: Chúa là Tình Yêu. Chúng ta đều là con Chúa, nên là anh chị em với nhau. Anh chị em phải yêu nhau vì đều là con một Cha. Thưa, có đúng như vậy không cơ?
Đạo lí của lòng tốt muốn bảo vệ quyền con người bắt nguồn từ tình yêu thương cao cả ấy. Tình yêu thương ví như nước, ở đâu có chỗ trũng thì chảy vào, trũng nhiều thì chảy vào nhiều. Vậy mà, thời chiến, có biết bao nhiêu nạn nhân Cộng sản, sao Lm. Chân Tín và báo Đối Diện không đoái hoài mà lại chỉ tranh đấu bảo vệ cho một nhóm nhỏ sinh viên Việt Cộng? Đó chắc không phải là dấu hiệu của Tình yêu thương chân chính.  Những hoạt động của linh mục không mang tính thánh thiện, cao cả, vô tư  mà là thứ tình yêu thương mạo nhận, giả tạo, nhằm phục vụ mưu đồ chính trị phe phái, tranh bá đồ vương, chứ không phải là đang “thi hành sứ mạng ngôn sứ” gì cả.
Nếu so sánh hai cụ linh mục Dòng Chúa Cứu Thế: Chân Tín và Trần Hữu Thanh, người ta thấy cả hai đều giống nhau ở một điểm là cùng tranh đấu chống chính quyền VNCH. Lm. Chân Tín tranh đấu nhân quyền dỏm, thiên vị, gian dối, làm cho VNCH suy yếu. Lm. Trần Hữu Thanh chống chính quyền tham nhũng. Coi như ông làm việc tốt. Khổ nỗi, tuy ông chống đúng nhưng lại quá sai thời điểm. Tới thời điểm VNCH sức cùng lực kiệt, đang đứng bên bờ vực tử sinh, thì Lm. Trần Hữu Thanh khởi xướng phong trào chống tham nhũng. Hành động của Lm. Trần Hữu Thanh như một cú đạp mạnh, làm cho VNCH mau chóng rớt xuống hố. Sao ông không chống sơm sớm một chút?

Sau khi Cộng sản chiếm trọn miền Nam, Lm.Chân Tín không bị tù, tức ông có công với chế độ. Lm. Trần Hữu Thanh, chắc có dính líu với bàn tay lông lá, cho nên Cộng sản bắt ông đi tù 4 năm và 9 năm quản chế ở miền Bắc.  Khi được tự do, Lm. Trần Hữu Thanh không về sống ở miền Nam. Ông sống lặng lẽ, âm thầm làm việc mục vụ và giúp cải thiện đời sống cho nông dân nghèo ở thôn Trần Nội, Hải Phòng, đồng thời góp sức gây dựng lại Dòng Chúa Cứu Thế Thái Hà, Hà Nội. Ông yên lặng thì thiên hạ cũng để cho ông yên, ít ai đả động chuyện ông chống tham nhũng vào giờ thứ hai mươi lăm ngày xưa nữa. Lm. Trần Hữu Thanh qua đời năm 2007, dân chúng tiễn đưa ông như tiễn đưa một mục tử nhân hậu, một vị tu hành tận tụy hi sinh vì dân nghèo, bất kể lương giáo.

Như đã nói trên đây, sau 30.4.1975 khoảng 2 năm, Lm. Chân Tín đã vỡ lẽ ra, ông quay ra chống Cộng.  Nghe theo tiếng gọi của Tổ quốc, ông đấu tranh cho nhân quyền, cho tự do, dân chủ, và vì sự toàn vẹn lãnh thổ.
Ở trong nước, hiện nay, biết bao nhiêu người bất mãn chế độ, nhưng vì Cộng sản sẵn sàng dùng bạo lực, bất chấp luật lệ, cho nên chỉ có một số ít nhà ái quốc anh hùng, quyết hi sinh tất cả, mới dám lên tiếng (mới chỉ là lên tiếng) mà thôi. Trong số đó, có Lm. Chân Tín.
Ước mong cụ linh mục, hiện chưa đủ can đảm nói lời xin lỗi nước VNCH, thì hãy tiếp tục dùng khả năng, kinh nghiệm, tiếng tăm và cả tuổi đại thọ của bậc nhân tiên qúy hóa của cụ để tranh đấu cho chính nghĩa Quốc gia dân tộc. Coi như cụ đang “đái tội lập công”.
Lịch sử bao giờ cũng có đủ thời gian!  Không như người Cộng sản chủ trương  “giết lầm còn hơn tha lầm”, người Quốc gia chân chính có đủ sáng suốt, sẽ xét đoán phân minh công tội đối với các nhân vật đã dính líu tới trang sử đau thương thời cận đại của nước nhà.
Miễn là, xin cụ linh mục hãy yên lặng. Đừng tiếp tục “chống Mĩ Thiệu” và tố cáo chính quyền VNCH bắt bớ “sinh viên” nữa. Hãy khép khoảng thời gian tranh đấu năm 1970 sôi nổi của cụ và của báo Đối Diện lại. Làm thế, có lẽ công luận cũng sẽ đối xử tương tự với các hoạt động tai hại của cụ trong quá khứ.
*Bạch Diện Thư Sinh
 

 

Bạch Diện Thư Sinh
Theo: motgoctroi.com