
chúng tôi nghĩ văn hóa nhân bản và đạo lý truyền thống là cái gíá trị vô cùng, tạo nên nhân vị, nhân phẩm cho chúng ta, tạo nên nhân cách cùng sự hiểu biết của ta, nhờ đó càng tăng phẩm giá cho chúng ta và cộng đồng dân tộc ta thêm tự hào và tự tin trên con đường thăng tiến, để giải thể chế độ cộng sản Hà Nội và loại bỏ nền văn hoá xã hội chủ nghĩa, là văn hoá của hận thù, đói khổ và sự chết.
LÀM THẾ NÀO THÂU HOẠCH NỀN VĂN HOÁ NHÂN BẢN ?
Kính Tặng Nhà Báo Điếu Cày, Nhạc Sĩ Việt Khang Và Anh Đoàn Văn Vươn Cùng Chị Bùi Thị Minh Hằng Và Cháu Trịnh Kim Tiến : Những Người Can Đảm Nói Và Hành Động Cùng Đứng Lên Chống Quân Xâm Lược, Chống Kẻ Hèn Nhát Bán Nước Diệt Dân
Kính Thưa Quý Vi,
Theo dõi hiện tình của Đất Nước Việt Nam, tất ai cũng thấy xã hội càng ngày càng suy đồi đạo đức, nền luân lý và văn hóa thì càng trầm trọng đồi bại từ các ông lớn lãnh đạo trên thượng tầng guồng máy cai trị cho đến các anh cán bộ, công an huyện và khu phố xóm đều cá mè một lừa thối nát đồi bại như nhau. Vì với một nền giáo dục phi nhân bản theo lối « xã hội chủ nghĩa » không xem trọng đạo đức và nhân phẩm, mà Hà Nội trong mấy chục năm qua cứ bám lấy vào thân minh làm « bửu bối » để giữ thế quyền lực, cho nên đã đưa đẩy Đất Nước đến hố thẳm luân lý cùng đạo đức, và có nguy vong mất Nước trong tương lai đến? Ai cũng thấy chúng chỉ dạy một thứ tam vô : vô tổ qưốc, vô gia đình, vô tôn giáo, do đó đã phá nát những tinh hoa đạo đức, luân lý và sáng tạo của bao thế hệ người Việt chúng ta, nhất là giới trẻ. Chúng ta không thấy đâu trên địa cầu này, lại có một nền giáo dục kỳ quặc như xã hội chủ nghĩa Hà Nội : qủa khóc cha, khóc mẹ thì lại không chịu khóc và đau thương cho trọn đạo hiếu phận con, nhưng lại đi khóc đến bạc đầu những tên đại ác, đại cuồng sát, gây nên tội diệt chủng nhân loại ai ai cũng kinh tởm và phỉ nhổ cái ông Stalin và Mao Trạch Đông, thế mà chính ông Tố Hữu làm thơ khóc ngày, khóc đêm hai tên đại tội đồ của dân Nga và Trung Hoa cùng nhân loại. Lại nữa ông Tố Hữu kẻ đi chọn Stalin chọn Mao Trạch Đông làm Bố của mình. Xin hỏi ông là ai, dân tộc nào mà bản sắc dân tộc tính lại không chịu mang giòng máu Viêt Tộc để tự hào với con cháu mình hỉ ?
Thêm nữa, chỉ có một loại văn hoá xã hội chủ nghĩa và sự giáo dục phi nhân bản của Hà Nội mới tạo ra một loại người mất đạo đức, mới có cảnh trò đánh thầy cô, thầy lại dụ tình học trò, ông lớn đi hiếp dâm con nít. Công an không chịu lo đi bênh vực cho dân, mà chỉ lo đi lùng bắt và đánh dân lành, đánh các vị chức sắc tôn giáo lãnh đạo tinh thần chống ngoại xâm rợ Hán. Chúng lại còn hung hăng đến nỗi nhẫn tâm đánh không thương xót những người yêu nước cùng bỏ tù họ như Nhà Báo Điếu Cày, Nhạc Sĩ Việt Khang, Chị Bùi Thị Minh Hằng, là những người chống Trung Cộng đã cướp Hai Đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Tham vọng của Hán Cộng còn lăm le thôn tính luôn cả Đất Nước chúng ta, bởi do sự tiếp tay của các tên Vìệt gian Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh, Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng và cái Bô Tà Trị của chúng. Vâng, kỳ lạ thay trên thế giới hỏi có một Đất Nước nào khi «bê tông » xây nhà và xây cầu lại bằng « xi măng cốt tre » chăng ? Thế nhưng trong thời đại « văn minh bê tông, cốt tre, tham nhũng » của xã hội chũ nghĩa Hà Nội lại làm chuyện «động trời, rung đất » này !
Ông bà ta dạy làm thầy thuốc có sai lầm thì chỉ diết hại đôi ngưòi, còn làm chính trị sai lầm hoặc ngu dốt thì tại hại cho bao thế hệ phải khổ đau cùng cơ cực lầm than. Chí lý thay!Chí lý thay! Vi khi Đảng Cộng Sản Hà Nội cùng Hồ Chí Minh cướp được chánh quyền « đánh lận con đen » từ năm 1945 cho đến nay, thì họ đã diết chết bao thế hệ người dân Việt trong đau thương và tủi nhục. Di sản của Đảng cộng và chế độ Hà Nội để lại cho con cháu chúng ta được những gì ? Ôi một đống rác vô luân, phi đạo đức và suy đồi văn hoá, vong thân, đánh mất đi tình tự dân tộc và bản sắc tuyền thống nhân bản tình người của người Việt chúng ta.
Diệt cộng sản, Đánh cộng sản là lý đương nhiên để cứu nguy dân tộc, thế nhưng chuyện cứu nguy nền văn hóa nhân bản, đạo đức luân ly của cha ông cũng là chuyện đương nhiên chúng ta phải làm và phải làm cấp bách : như ăn cơm uống nước hằng ngày nuôi thân vậy. Do đó, với một tấm lòng tha thiết quặn đau cùng ưu tư với tiền đồ Dân Tộc và Đất Nước, chúng tôi xin cống hiến đến Dân Việt bài viết này.
I. Văn Hóa Cá Biệt
Chúng ta thấy các con ong và con kiến hoàn thành công việc của xã hội sống của chúng thật tài tình, và chúng đạt đến một kểu sống không được chuẩn bị và đào luyện trước như chúng ta. Bởi tự bản chất, thì chúng nó có thể sinh ra « xã hội hóa, socialisation, socialization ». Sự xã hội hóa đó là bản năng tính của con ong và con kiến. Nói một cách sinh vật học (biologique, biological), thì chúng nó thích ứng với môi trường và sự sinh tồn của loại giống. Đây là một câu hỏi về di truyền và phân tử di truyền. Trái lại, con người chúng ta không thể sống sinh tồn như con ong hay con kiến. Vì con người phải học làm thế nào để sinh tồn, sinh nhai ; và làm thế nào hài lòng, thỏa mãn cùng thích ứng những đòi hỏi của điều kiện sống ở môi trường thể chất, tâm linh, xã hội và lý tưởng của mình. Những đòi hỏi đó là những tiến trình đào luyện, thực tập, học hỏi văn hóa. Hay nữa, người ta gọi đó là học hỏi hoặc thực tập đi vào văn hoá nhân bản cùa con người (enculturation humaniste, humanistic enculturation).
Do thế, văn hóa không là sự thừa hưởng của giòng máu cha mẹ (herité biologique », nhưng là tạo được bởi học hỏi và đào lyện (apprentissage, apprenticeship). Chúng ta thấy khi một người Nhật hành dộng (tác phong, tư cách) theo cung cách người Nhật, là vì họ đã được học hỏi, bày tỏ và hành động theo phương thức người Nhật. Chớ không phải vì họ có giòng máu người Nhật ở da thịt của họ, hay là giống người Nhật tự hào có giòng máu di truyền đặc thù của mình. Song bởi người Nhật đã đưọc giáo dục, đào luyện, trau dồi và học hỏi từ cung cách suy nghĩ, ăn nói, nhận thức hay hành động khác người ta. Người Nhật đã học được hình thái văn hóa và giáo dục đặc thù của truyền thống Cha Ông họ, để họ trở nên người Nhật chính tông, khác với người Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Gia Nã Dại, Tàu, Thụy Sĩ , Việt Nam vv.. Đơn cử, chúng ta nghe hay đọc báo nghe những câu chuyện người sói hoặc người khỉ, họ được chó sói hoặc khỉ nuôi họ từ lúc nhỏ nên họ sống theo tự nhiên như khỉ hoặc sói.
Do đó, những gì không được học hỏi, đào luyện, nhưng đến bất ngờ bởi di sản thừa hưởng, thì những điều đó không thể gọi là văn hóa được. Hay nữa, chúng ta đã đưọc nghe nhiều người Việt nói : « còn truyện Kiều thì còn văn hoá Việt Nam ». Theo chúng tôi nghĩ không có truyện Kiều, thì văn hóa Việt Nam vẫn tồn tại cùng sống mãi. Vì truyện Kiều chỉ là một tác phẩm hay công trình đóng góp của tiên sinh Nguyễn Du vào nên văn học và văn hóa của Dân Tộc.
II. Làm Thế Nào Để Thâu Hoạch Được Văn Hóa Nhân Bản ?
Qủa thực ngay từ lúc con người lọt lòng mẹ là không có văn hóa. Và con người sống động, lưu tại được là nhờ học hỏi, đào luyện, tạo được kiểu mẫu sống gọi là « enculturation » (chúng tôi tạm dịch của từ này là thực tập, đào luyện, học hỏi về văn hóa của mình). L 'enculturation một đôi khi được gọi dưới cái tên là xã hội hóa (socialisation). Tuy nhiên hai từ ngữ này không hoàn toàn là đồng nghĩa. Chúng ta hiểu rằng từ enculturation là học hỏi, đào luyện, thực tập tất cả những dạng thái của văn hóa. Chúng ta cũng có thể kết luận là học hỏi về khoa học nhân văn, học đạo đức, luân lý, phong tục, tập qúan, học kỷ thuật, nghệ thuật, lý tưởng và tôn giáo vv... Trong lúc đó xã hội hóa là trung tâm của những kiểu mẫu, hình thái, để nhờ qua đó mà cá nhân trở nên phần tử của thân thể xã hội (corp-social), tự hội nhập, hòa đồng cho giống nhau, hầu tạo nên một hoàn cảnh và đạt được một vai trò, một chân đứng trong lòng xã hội mình sống.
Vì thế tính cách của l’enculturation là truyền thụ trong chiều hướng mà nó diễn tả tất cả những kiểu mẫu khác nhau của thái độ cùng dạng thái của con người. Vì mỗi cá nhân phải học hỏi những bài học, những nguyền tắc, những gía trị của văn hóa nhân bản. Do đó, con người cần phải học, đào luyện cử chỉ, ngôn ngữ, lời ăn tiếng nói và ngay cả ý tưởng của mình, để tránh bớt sự hiểu lầm với tập thể và tha nhân. Qủa chúng ta phải học những cung cách, lối xử thế, giao tế của văn hóa nước mình, và cũng phải học cách xử thế, giao tế của văn hóa nước người. Hơn nữa, chúng ta phải trung thánh với kiểu sống đó của mình. Những điệu bộ, dạng thái mà ta thửa nhận cùng hòa đồng làm sao để trở nên hồn nhiên, tự nhiên như là cá tính của ta, hầu được xem là người có văn hóa, hay còn gọi là con nguời có giáo dục. Do thế, tất cả mọi người đều phải trải qua một thời gian đào luyện, học hỏi để thụ nhận văn hóa nhân bản của cha ông. Chúng ta là người Việt Nam, thì lẽ tất nhiên là phải học để hiểu văn hóa nhân bản của dân tộc mà ứng xử cho phải phép. Thật điều đó là lẽ bình thường. Bình thường có nghĩa cho tất cả người Việt Nam làm người Việt Nam.
A. Những Đặc Thù Và Cá Biệt Của Các Nền Văn Hóa Nhân Loại
Chúng ta thấy trong các xã hội con người có nhiều loại dạng thái khác nhau, như trong cung cách, trong cử chỉ cùng hành động của họ, họ biểu lộ cho chúng ta thấy các khác biệt của các nền văn hóa. Bởi mỗi một làng, mỗi một bộ tộc, quốc gia đều có phong tục, tập quán, hay những nghi thức cử hành nghi lễ và phụng tự khác nhau. Do vậy, đôi khi trong cung cách suy nghĩ, trong tư tưởng, cử chỉ, cùng thái độ bên ngoài trong lúc giao tế với người, thì chúng ta dễ bị ngộ nhận vì không hiểu được văn hóa xứ người. Qủa thật mỗi một bộ tộc hay quốc gia đều có gia tài văn hóa, tập quán và những thói quen của mình. Họ thực hiện những kiểu cách và dạng thái văn hóa đó ra trong cuộc sống. Điều hệ trọng ở đây, là chúng ta cố gắng tìm hiểu, học hỏi những kiểu mẫu khác của tư tưỏng, của lời nói, của cung cách tốt của người, để làm giàu thêm sự hiểu biết cùng cái lịch lãm của ta. Như câu ngạn ngữ của cha ông chúng ta dạy : « xuất giá tòng phu, nhập gia tùy tục », để gieo cảm tình, va gây được thiện cảm vào lòng người.
Giờ đây chúng tôi xin phép được trích dẫn một vài hình ảnh phong tục và văn hóa cá biệt của nhiều quốc gia :
Thực trước hết trong nền văn hóa của chúng ta hay người Âu Mỹ đã học rất sớm cách dùng đũa, muỗng, nĩa, dao, khi dùng bữa. Nếu chúng ta dùng đến đôi tay để ăn, thì chúng ta cho là kém văn minh, mọi rợ. Thế nhưng chúng ta đã quên rằng khi chúng ta ăn trái táo, các loại cây trái khác hoặc ô bánh mi và miếng bánh mì, thì chúng ta thường dùng đến bàn tay và các ngón tay của mình. Hay nữa các nuớc Hồi Giáo như Mã Lai, Nam Dương vv.., thì người dân ở xứ này, họ xử dụng bàn tay phải và các ngón tay của mình để dùng bữa. Họ không dùng đến dao, nĩa, muỗng hay đũa, để gắp, để dùng như chúng ta. Vì họ nghĩ gạo là hạt ngọc của Trời, cho nên mình phải biết tôn trọng, không thể dùng đến đôi đũa hay muỗng để ăn cơm.
Từ đó, chúng ta cảm nhận những người Nam Dương, Mã Lai có lý của họ, vậy chúng ta không thẻ khinh thường và nói họ là kém văn minh. Và nếu khi chúng ta được họ mời dùng cơm, chúng ta xử dụng đôi đũa để ăn, thì ta cảm thấy sẽ thiếu một tế nhị nào đó với ho. Cũng miếng ăn, nguời Mélinasien uớp thịt heo làm chúng ta thấy ghê tởm : họ thái gừng trộn lẫn muối, rồi đưa vào miệng để nhai cho nhuyển, sau đó họ nhổ gia vị ấy lên trên miếng thịt heo, lấy tay thoa đều rồi nướng miếng thịt đó trên lữa cho chín rồi mới ăn.
Cũng cách ăn, thì người Âu Mỹ không thể tuởng nổi khi thấy người Á Châu chúng ta như Việt Nam, Đại Hàn, Trung Hoa và một số người Indiens (thổ dân) vùng Mễ Tây Cơ (Mexique) ăn thịt chó hay mèo một cách ngon lành. Bởi theo người Âu Mỹ, con chó và con mèo là loại gia súc được yêu chuộng, biểu tượng cho sự trung thành. Hơn nữa, hầu như người Âu Mỹ xem chó hoặc mèo là một phần tử trong gia đình. Còn phần chúng ta, người Đại Hàn, Trung Hoa cùng nguời Idien, thì cảm nghĩ khi ăn thịt chó sẽ khóai khẩu, thi vị hơn là ăn gà tây như người Âu Mỹ. Cũng như chúng ta biết một vài sắc dân ở Châu Phi họ gớm khi nghĩ đến uống tiết (máu) của loài vật. Cũng thế họ sợ khi phải uống sữa, nhưng lại cảm thấy khóai vị khi ăn thịt chuột, rắn và côn trùng. Chúng tôi xin qúy vị thông cảm, vì không thể kể hết những kiểu ăn đặc thù của nhiều dân tộc, hoặc kể những phong tục và văn hóa khác nhau của nhiều bộ lạc và quốc gia. Do thế, chúng tôi chỉ xin đưa ra một vài hình ảnh đơn thuần để chúng ta cùng hiểu và biết, hầu xử thế vơi người và đời.
Chúng tôi nghĩ rằng chúng ta không nên xem tất cả các sự kiện trên là hoàn toàn liên hệ đến sự góp phần vào một xã hội văn hóa. Vì chúng tôi thiết nghĩ nguời ta cần phải học thật nhiều điều, nhiều việc và phong tục tập quán tốt và đúng, hoàn toàn tương xứng và thích hợp với lý trí, khoa học và thần học. Tuy nhiên, người ta cũng phải học nhiều điều khác nữa, lắm lúc nhiều điều khó khăn để chứng minh một cách khoa học. Ví dụ vấn đề thành kiến chủng tộc.
Qủa thực trong văn hóa có nhiều yếu tố quan hệ, được giáo dục như là tuyệt đối, như đó là giá trị chung cho con người. Song cũng có nhiều cái chúng ta cảm thấy giá trị ở quốc gia này, nhưng lại không giá trị và thích hợp với nền văn hóa khác. Chúng tôi xin phép đưa ra một vài đơn cử cụ thể : đối với người Âu Mỹ qủa là bình thường khi họ nghỉ ngơi thường ngồi trên chiếc ghế bành tiện nghi sau những giờ làm việc mệt. Khi ngồi thì họ thường đọc báo hay xem truyền hình, chân họ gát lên mặt bàn, lưng dựa hẳn đàng sau thân ghế trong tư thế thoải mái đối với họ. Những kiểu cách nghỉ ngơi cho thoải mái, tiện nghi với văn hóa Âu Mỹ, các điều đó thì thật là bình thường với họ. Song các kiểu cách này có thể chướng mắt, khó coi, thiếu lịch sự, không nghiêm túc đối với nền văn hóa khác như Việt Nam ta chẳng hạn. Hay như người đàn bà Âu Mỹ thích mặt những chiếc áo đầm hở ngực, biểu hiện như cái đẹp về thân thể của họ. Trái lại, người thiếu nữ, phụ nữ Á Đông, như Việt Nam, thì cung cách ăn mặc kín đáo và trang nhã. Vì thế chúng ta nhận thức rằng cung cách ăn mặc có thể cho là bình thường đối với nền văn hóa này, nhưng lại chướng mắt đối với nền văn hóa khác. Cũng thế, quả có những phong tục, luân lý là bình thường cho quốc gia này, song nguời ta cho là ghê tởm, đáng phỉ nhổ nơi một xã hội khác.
Do đó văn hóa dẫu là gia tài chung của nhân loại, nhưng lại chứa đựng nhiều điều khác biệt của xã hội con người, cũng như các đặc thù của nó. Bởi thế chúng ta cần học hỏi để có tầm hiểu biết sâu rộng, hầu dạy lại cho con em chúng ta những gì ta đã học được.
B. Phương Pháp Truyền Thụ Và Thụ Giáo Nền Văn Hóa Dân Tộc
Chúng ta nhận thấy ngay từ buổi ấu thời đứa bé phải học cách ăn uống như thế nào với đôi bàn tay của chúng. Bé tập làm quen dần với đôi đũa, cái muỗng, cái nĩa, con dao vv…Bé cũng phải tập ngồi vị thế nào ở bàn ăn, học cách gắp thức ăn, và ăn làm sao cho đúng phép, cho trang nhã và lich lãm. Cũng thế, khi đứa bé biết nói, thì phải học nói cho đúng ngôn từ. Bé cũng học cách đi đứng, cách ngồi, kiểu mặc áo quần, kiểu chơi cho đúng và lịch sử. Sau đó với thời gian, thì bé học cách ăn mặc, gài nút áo, nịt cái quần một mình, rồi chẳng bao lâu đứa bé tin tưởng, hầu biết làm thế nào có thể thắt và cởi đôi giày không cần đến cha mẹ hoặc anh chị giúp đỡ. Lại cũng kiểu như thế, đứa bé biết chải đầu tóc mình cho gọn và đẹp cùng học cách ăn mặc chỉnh tể hơn.
Từ đó chúng ta nhận thấy trong một thời gian dài quan hệ đứa bé học và tập những kiểu cách, những dáng điệu, những tác động của cung cách và tác phong ăn nói, học các cảm nghĩ, các nhận thức, sự quan sát, cách phẩm bình. Cũng như đúa bé học thêm luân lý, đạo đức cùng học những nguyên tắc sống trong gia đình và xã hội vv. Nhờ những thói tục và phong tục và tập quán tốt này mà các em học được ở cha mẹ hay người lớn, tạo nên cho em bé một cá tính thứ hai. Cá tính này chính là con người Việt Nam (người Việt Nam truyền thống nhân bản và đạo lý, chớ không phải kiểu người Việt Nam theo loại văn hoá hận thù, cướp bóc và sự chết cùng ngu dân hoá của Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Cộng). Cũng là cá tính của người Trung Hoa, Nhật Bản, Mỹ, Anh, Pháp, Úc, Đức, Thụy Sĩ… Nhờ cá tính thứ hai em bé học được sẽ giúp cho em biết ăn nói, đi đứng, cư xử theo mẫu mực, lịch thiệp. Chúng ta gọi là con người có văn hóa hay có giáo dục là đó !
Như thế chúng ta biết rằng « enculturation » có thể tác động sâu thẳm về thái độ và nhân cách của con người. Do đó, chúng ta có thể nói kể từ buổi ấu thời hay từ khi lọt lòng mẹ là con người đã được dạy dỗ, huấn luyện, học hỏi làm sao để tiếp nhận được những tinh hoa văn hóa nhân bản của cha ông. Vì thế mà sự thụ giáo của đứa bé là ảnh hưởng rất lớn vào sự huớng dẫn của cha mẹ và học đường. Nhờ qua cha mẹ, anh chị, thầy cô mà đứa bé thực tập sử dụng những bài học chân chính đầu đời của nó (chớ không có sự giáo dục đấu tố, rặt hận thù đấu tranh giai cấp như Việt Cộng và Đảng Cộng dạy con em chúng). Ngoài ra, chúng tôi đề nghị là chúng ta phái có những hình phạt để tránh cho các em bé đi sai con đường mẫu mực mà chúng đã được truyền thụ. Bù lại, chúng ta cũng có những cử chỉ tán dương, khen thưởng các em khi các em ngoan ngoãn, có thái độ lịch sự, tế nhị qua cung cách xã giao hay tuân phục. Chúng tôi ước nghĩ với sự giáo dục này hằng luôn được linh động và diễn tiến mỗi ngày trong mọi gia đình Việt Nam chúng ta.
Đẹp thay khi chúng ta giáo dục văn hóa truyền thống nhân bản và đạo lý là sự kiện cho con trẻ Việt Nam thấm nhuần đức tính cao thượng và hào hiệp. Từ đó Đất Nươc mới hy vọng nảy sinh những Anh Hùng, Anh Thư và Anh Tài cho Dân Tôc : như Nhị Vương Trưng Trắc, Trưng Nhị, Vua Ngô Quyền, Đức Tướng Quân Trần Hưng Đạo và Trần Bình Trọng Trọng, Đức Vua Lê Lợi, Tướng quân Lê Lai, Đại Thần Nguyễn Trãi, Đức Vua Lê Thánh Tôn, Đức Vua Nguyễn Huệ, Tuớng quân Phan Đinh Phùng, Đức Vua Hàm Nghi, Tiền Bối Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh, Anh Hùng Nguyễn Thái Học, Chí Sĩ Ngô Đình Diệm, Cố Vấn Ngô Đinh Cẩn, Anh Tướng Phạm Văn Phú và Nguyễn Khoa Nam, Anh Tướng Lê Văn Hưng và Lê Nguyên Vỹ, Anh TướngTrần Văn Hai và Hồ Ngoc Cẩn, Anh Hùng Nguyễn Văn Long.
Để rồi chúng tôi có thể gọi các em là người lịch lãm, hiểu biết, có nghị lực và anh dũng. Vì vậy chúng tôi xin các bậc cha mẹ đừng ngại và chớ nghĩ rằng giáo dục theo văn hóa truyền thống nhân bản và đạo lý làm người của cha ông là « lỗi thời, cổ lỗ sĩ » như một số anh chị và một số gia đình Việt Nam nghĩ như thế. Chúng tôi cảm nghĩ các anh chị và các gia đinh ấy có lẽ chưa hiểu thấu tầm quan trọng của văn hoá nhân bản cùng đạo lý truyền thống. Nhất là, việc giữ gìn, bảo tồn, truyền giao lại văn hoá truyền thống nhân bản và đạo lý của Dân Tộc cho thế hệ kế tiếp. Như chúng tôi đã nói ở trên, qua cung cách, điệu bộ, dạng thái, cử chỉ bên ngoài của chúng ta khi giao thiệp với người, thì qua đó người ngoại quốc chỉ cần nhìn điệu bộ, các cách xử thế bên ngoài ấy để biết rõ được nền văn hóa của quốc gia ta. Và từ đó họ có thể đánh giá và phẩm bình chúng ta là người có văn hóa hay kém văn hóa, quốc gia chúng ta văn hiến hay còn lạc hậu, man di. Cứ xem thiên hạ kính phục văn hóa Nhật Bản và kính ngưỡng cung cách xử thế của càc em bé Nhật ra sao, thì chúng ta rõ tầm ảnh huởng trong sự giáo dục và truyền thụ văn hoá truyền thống và đạo lý cha ông như thế nào.
Theo những nhà nhân chủng học, thì họ nghĩ phải đưa vào những đặc thù của nền văn hóa thực tiễn và nền văn hóa lý tưởng vào trong chương trình học phổ thông. Nhưng thật ra, chúng tôi thiết tưởng, cái cảm nghĩ của những nhà nhân chủng học là bản chất của những dạng thái văn hóa thôi. Vì qua văn hóa, thì con người được biếu không những con đường, những phương hướng và tiềm năng để giải quyết các nan giải, các khó khăn của mình, hầu giúp họ sống tươi nở. Nói như Kelly, nhà nhân chủng học người Mỹ : « văn hóa mở trí và chia sẻ cho con người sự hiểu biết và cung cách sống ». Thế nên, con người văn minh, là người được uốn nắn và chịu ảnh hưởng rất lớn bởi một nền văn hóa nhân bản và đạo lý truyền thống. Do thế văn hóa nhân bản và đạo lý truyền thống không trói buộc con người và nhốt tù con người vào định kiến, nhưng văn hóa nhân bản và đạo lý truyền thống dạy cho con người hiểu biết và làm người chính danh trong xã hội. Chỉ có một loại văn hóa xã hội chủ nghĩa kiểu Hà Nội mới làm băng hoại con ngưòi và suy đồi đạo lý và tình nguời, tình đồng bào và quê hương. Chủ Tịch Nước, Thủ Tướng, Tổng Bí Thư Đảng cộng gi chỉ biết cướp nhà, cướp ruộng vườn của dân, nhưng lại đi dâng dất, dâng biển, bán tài sản quốc gia như quặng mỏ và rừng rú. Vả nữa, tôi nghe các bạn hữu nói khi đi ăn ờ các quán ăn tại Hà Nội, người đi ăn uống, họ trả tiền còn bị người bán hàng chửi rủa như tát nước vào mặt vậy.
III. BẢN CHẤT CỦA HỌC HỎI VÀ THỰC NGIỆM VĂN HÓA
Chúng ta hay trong vấn đề giáo dục thì có ba cách thụ gíáo của một nhân sinh quan :
1). Cá nhân học nhiều qua lời giáo huấn trực tiếp, học ý thức cũng như lương tâm, được gọi là lời giáo huấn. Thời gian học ở trường là hình thái đặc biệt của nền giáo dục. Đây là những lơi giáo huấn và những giờ giấc được sắp xếp cho thích hợp. Sự giảng dạy này do thấy hay cô giáo, họ đưọc chỉ dịnh bởi xã hội (nằm trong chương trình của Bộ Văn Hóa Giáo Dục Quốc Gia).
2). Con người phải trải qua thời gian học cách quan sát, khảo cứu, và bằng cách kiên nhẫn, họ cố gắng bắt chước theo mẫu mực. Cũng như đứa bé thục tập, học hỏi phương cách dùng bữa ăn với đôi đũa, cái muỗng, cái nĩa, con dao vv.., theo lối quan sát cùng bắt chước cha mẹ hay người lớn.
3). Cuối cùng người ta học một cách vô ý thức bởi cách bắt chước thiếu ý thức. Đây là một kiểu hấp thụ, thường bị đồng hóa vào chính mình. Chúng ta rõ lối thụ nhận văn hóa qua hình thức thứ ba này là rất hệ trọng mà nhiều người không nghĩ đến. Hệ trọng là vì nó ảnh hưởng một phần đời sống của ta. Chúng ta dễ bị đồng hóa mà ta không hay biết bằng những cử điệu, hay có khi ngôn ngữ xứ người, hay những dạng thái của người khác (ngoại quốc), xâm nhập vào con người ta, hay nữa cũng do thói xấu của ta tạo ra : như khi mở miệng nói chuyện với người cùng xứ sở ta hay nói dặm thêm tiếng Mỹ hoặc Pháp… Hoặc nữa do những thói xấu của ta tạo ra, như nền giáo dục của xã hội chủ nghĩa Hà Nội.
Chúng tôi nghĩ đây thực là một cách tự nhiên của học hỏi, thực tập. Chúng ta biết đầu tiên là ngôn ngữ, việc học này chiếm một phần lớn sự hấp thụ của các em. Sau nữa khi chung đựng với các bạn cùng lớp các em bị « xâm nhập » những cái vô ý thức (inconscience, unconsciouness) qua những lời nói, điệu bộ, cách ăn mặc, cách chải tóc vv… Vì ngay cả chúng ta, là những người lớn lắm lúc cũng bị những điều thiếu ý thức này vướng phải. Thực vậy sự « sản xuất » những củ chỉ, điệu bộ, các cách ăn mặc khác người, thì thái độ thiếu ý thức này của ta, lắm lúc chính ta tạo nên cho càc em. Bởi các em chỉ là « nạn nhân » của sự bắt chước theo ta.
Chúng tôi thiết tuởng chúng ta là những bậc cha mẹ, người lớn, nên hướng dẫn và chỉ dạy cho các em rõ, hiểu đuợc những cử chỉ, thái độ, ngôn ngữ xấu, thiếu đứng đắn mà các em hấp thụ qua bạn bè, qua những người các em gặp gỡ ở nhà trường, công sở hay xã hội. Chúng ta nên thường nhắc nhở, khuyên bảo các em như : « một con sâu làm rầu nồi canh, hoặc một con ngựa đau cả đàn bỏ cỏ », nó có ý nghĩa giúp các em hiểu tầm quan trọng của các cử chỉ hay hành vi vô ý thức của mình, là quan hệ đến danh giá của gia đình, của cộng đồng và dân tộc. Những lời nói khuyên bảo và dạy dỗ chưa đủ, chúng ta cần phải đi kèm với hành động và gương sáng của ta cho các em thấy, là ta : « ngôn cố hành, hành cố ngôn, nói sao ta làm vậy ». Hay nữa, như câu ngạn ngữ của người Tây Phương là rất giống ta : « les paroles instruisent, mais que l’exemple entraine ; words teach but exemple draws ; lời nói dạy dỗ, nhưng gương sáng cuốn người ta theo ».
A. NHỮNG VIỆC HẤP THỤ VÔ Ý THỨC, THIẾU Ý THỨC KHÔNG THỂ GỌI LÀ VĂN HÓA HAY GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG
Như chúng tôi đã nói ở trên, trong đời sống của chúng ta thường có những cử điệu bên ngoài là múa tay lúc nói, ngồi ăn thì rung đùi và các hành động xấu mà ta không hay biết. Đơn cử như người Ý, họ không học cử điệu « khoa chân, múa tay » (gesticuler, to gesticulate), tuy nhiên khi chúng ta gặp người Ý, có dịp đối thoại cùng trao đổi với họ, thì chúng ta nhận thấy một số đông người Ý gợi ra những điệu bộ khoa chân múa tay nhiều hơn là bằng lời nói. Bởi ở họ là hậu qủa của một thói quen xấu, hay một kiểu bắt chước vô ý thức.
Vì thế, nhân tiện khi nói đến vấn đề này, thì chúng tôi thành thật xin lỗi một số anh chị em trẻ Việt Nam trước ! Qủa chúng tôi đã bắt gặp và thấy một số anh chị em trẻ Việt Nam chúng ta có nhiều điểm bắt chước thiếu ý thức khi họ chạy theo, học đòi cùng làm theo kiểu cách tân thời về ăn mặc, đi đứng, lới nói, rồi hút sách vv… Nhiều điểm và nhiều việc các anh chị đó đi thái qúa nền văn hóa Việt Nam của cha ông ta.
Chúng tôi thấy nhiều nhất là trong giới ca nghệ sĩ, ca sĩ trẻ, họ bắt chước cách ăn mặc, lời ca, kiểu tóc, điệu nhảy, để được giống các ca sĩ Âu Mỹ mỗi khi trình diễn văn nghệ cho người Việt Nam hay ngoại quốc xem. Thật đáng buồn chúng tôi phải nói lên điều này! Vì cha ông chúng ta không truyền đạt cho chúng ta cách thức kiểu ăn mặc như thế. Những kiểu cách cùng dáng điệu tỏ ra bên ngoài này là do hậu qủa của một sự hấp thụ thiếu ý thức và vô ý thức. Chúng tôi nghĩ cũng có nhiều anh chị hấp thụ một cách không chủ tâm. Bởi đó những cái bắt chước không có ý thức, hấp thụ nhiều khi có tính cách tự nhiên của các em bé, thì chắc chắn rằng chúng ta không thể phóng đại lên rằng những điều đó đúng với nghệ thuật và xã hội, để trở thành văn hóa thật của chúng ta.
B. VĂN HÓA LÀ GIA TÀI ĐẶC THÙ CỦA CON NGƯỜI
Qủa sự truyền đạt văn hóa và lưu tồn văn hóa là một dấu chỉ biểu hiện của con người. Ngược lại, chúng ta thấy các con vật không bao giờ biểu lộ được dấu chỉ chân thật của văn hóa. Tại sao văn hóa là đặc biệt cho con người ? Cũng như tại sao nhà nhân chủng học thời danh Kroeber người Mỹ, định nghĩa khái niệm về văn hóa là « chỉ có giống người, và là điều thiếu không có ở các loài giống khác ? » Câu trả lời thật đơn giản : những loài vật không có văn hóa, vì chúng nó không thể học được và truyền thụ lại được. Hơn nữa, những con vật không có bản năng thông mình cho ta thấy những thái độ, dạng thái, biểu hiện, để giả thiết cho chúng ta thấy rằng chúng được đào luyện văn hóa. Do thế, chúng tôi nghĩ rằng những con vật không thể học được những gì như chúng ta.
Thế nhưng, nếu chúng ta thấy có những con vật như con nhồng, con két có thể nói được tiếng người một số câu nào đó như đứa bé, hay một số con vật như cá heo, ngưa, voi, cọp vv…, mà chúng nó nhờ con người đào luyện và dạy dỗ có thể làm xiệc được. Tuy nhiên, chúng ta rõ rằng vẫn có cái bản thể khác biệt giữa sự biết của loài vật và sự biết của con người. Đây là một khác biệt không chỉ về trình độ, thứ cấp, song cả về loài giống, là giống người và giống vật.
Có người tin rằng sự thấy đầu tiên về những loài vật giống người hơn cả là loài khỉ. Những con khỉ đột có khả năng học được như người. Họ nghĩ rằng cái kém của con khỉ khác nhau trong sự biết là một khác nhau về trình độ, hơn là loại giống. Cũng thế nhiều người cộng sản còn nghĩ và tin loại khỉ hay loại vượn là thủy tổ của loài người. Chúng tôi thiết nghĩ là một điều ngộ nhận lớn về khoa học của nhân chủng học, và nhân loại học khi đi tìm nguồn gốc văn hóa cùng con người. Vì theo những nhà nhân chủng và nhân loại học cùng các nhà phân tâm của Mỹ, Đức, như Hooton, Kohler và Yerker vv…, thì các vị ấy đã có nhiều kinh nghiệm học hỏi, khảo sát, nghiên cứu, thực nghiệm về sự sống và đời sống của con người, về các loại động vật, nhất là loài khỉ. Do đó, sau những năm học hỏi, tìm tòi, khảo cứu, thì các vị ấy nghĩ rằng loài khỉ không có năng lực học hỏi cùng hiểu biết như con người.
Ví dụ nếu quả có những con tinh tinh (chimpazé), con khỉ hay khỉ đột (anthropoide) mà chúng ta thấy trong những gánh xiệc, chúng có thể đạp được chiếc xe đạp vòng quanh sân khấu, hay biết ném những viên đá, biết hái dừa, quăng viên sỏi để tự vệ khi có ngưòi ném đà vào chúng, hay nhiều người còn cho rằng phi hành gia đầu tiên của người Mỹ là một con khỉ đột, không vì thế rồi kết luận loài khỉ là thủy tổ của loài người. Bởi chúng tôi biết qua những khám phá của các nhà nhân chủng, nhân loại học và phân tâm lý sinh vật học như Koler, R., Yerkers và A. Yerker, W.Kellog và L. Kellog, Titiev vv…, cho phép chúng tôi có một giả thiết rằng : nếu con khỉ đột tạo được sự hiểu biết mới, thì nó hoàn toàn bắt chước con người. Vì tự bản chất của khỉ không thể học hỏi được như con người.
C. YẾU TỐ CĂN BẢN CỦA VĂN HÓA LÀ TRUYỀN ĐẠT VÀ GIÁO DỤC
Tất cả những dẫn chứng chúng tôi tường thuật ở trên, thì yếu tố quan trọng là phương pháp giáo dục và hấp thụ, cũng là yếu tố quan trọng trong sự truyền đạt và thụ nhận văn hóa. Và sự giáo dục cùng truyền đạt này chỉ có con người là hấp thụ được văn hóa. Do đó, chúng ta xác định rằng loài vật hay loài khỉ không thể nào truyền đạt văn hóa. Cũng thế, chúng không thể giáo dục cho nhau về văn hóa, hay thấy dấu chỉ chúng sáng tạo, phát minh để đạt đến được sự văn mình như con người. Chúng ta dám quả quyết rằng dẫu có một tỳ năm hơn nữa, thì loài khỉ vẫn là loài khỉ. Đấng Tạo Hoá tạo dựng nó là loài khỉ thì nó muôn đời sinh ra là loài khỉ. Do thế, chúng ta không thể chấp nhận được cái thuyết quái dị « thủy tồ con người là lòai khỉ », hay con người theo thuyết tiến hóa, thì được biến dạng từ loài khỉ. Chúng tôi xin xác minh với những người tin thủy tổ con người là loài khỉ, là các vị không hiểu rõ gì về văn hóa và con người. Sự tin đó là tin « mù quáng và một cách hồ đồ », thiếu hẳn luận cứ khoa học về con người và loài động vật.
Giờ đây chúng tôi xin mạn phép được chứng minh cụ thể : chúng ta thấy tất cả những dấu chỉ bên ngoài như thông minh và khả năng đồng hóa (faculté d’assimilation) của loài khỉ, thì chúng vốn tại bắt chước những việc thấy, lắng nghe, lập lại, hay cảm thấy được hiện tại để nhắc nhở cho chúng các cảm giác về hình ảnh, rồi đến hợp lại một cảm giác kích thích mới, giống như gợi đến cái cảm nghiệm của buổi đầu mà chúng thấy để bắt chước. Vì thế cái có thể học thông minh của loài khỉ chỉ giới hạn ở điểm là bắt chước của cảm nghiệm, có tính cách cảm giác hiện tại « hic et nunc ; ở đây và bây giờ ». Nó có nghĩa là loài khỉ chỉ học bằng cách lập lại những cử động thấy qua người, việc này có tính cách chỉ hữu hạn của thời gian hiện tại, nó không thể vượt qúa hơn được.
Trái lại, với con người, thì họ có thể thực hiện ý trừu tượng (abstraction), tư tưởng của ý trừu tượng (idée abstraitea ; abstract idea) của điều « hic et nunc ; bây giờ và ở đây). Vả nữa con ngưòi có thể có ý trừu tượng của cái yếu tính (quiddité) hay bản thể, bản tính cuả các sự vật và của những sự việc xảy ra. Con người có thể trừu tượng tất cả những yếu tố, trừu tượng của cái nguyên nhân đặc biệt như viên đá, cỏ cây, loài vật hay vũ trụ và ngay cả chính mình. Thật con người có thể khảo cứu, tìm tòi, học hỏi những yếu tố, các nguyên nhân tạo nên vũ trụ và con người. Các điểm đó chúng ta không thể chối cải. Hơn nữa, con người cũng có đủ khả năng để học hỏi, và cũng có khả năng để thụ nhận, để hồi tưởng tất cả những gì mình đã học hỏi và quan sát, khảo nghiệm. Sau đó, con người có thể ghi chép qua sách vở, hay sáng tạo nên những đồ dùng hữu ích cho đồng loại, và để lừu tồn cho hậu thế (các thế hệ kế tiếp). Nói một cách khác dễ hiểu, con người có khả năng suy tưởng cùng suy nghĩ, đây là sự kiện đặc thù của con ngưòi, là sự thông minh của con người. Và nhờ tư tưởng nên con người có sáng tạo, có phát minh luôn mới, vì thế có văn hóa và văn minh lưu tồn mãi mãi.
Chúng ta nhận thấy con người nghĩ ra việc giữ gìn những tư tưởng, và thực hiện những công việc bảo tồn các giá trị sáng tạo về văn học và nghệ thuật, cũng như bảo tồn các phát minh về khoa học cùng kỷ thuật của mình. Hơn thế nữa, con người có bản năng chia sẻ những tư tưởng, ý niệm, sự hiểu biết của mình, cũng như chia sẻ nhũng gì mình học hỏi được cho người khác.
Chúng tôi xin đưa ra một đơn cử cụ thể : anh A có thể niêu tả một trò chơi mà anh không cần đến phải diễn tả những bộ điệu bên ngoài bằng tay hay đôi chân, trong lúc đó những người khác nghe anh A kể thì hiểu được cốt yếu của trò chơi, và họ có thể lập lại được trò chơi theo ý anh A miêu tả, không cần anh A phải diễn tả cung cách trò chơi bằng tay chân của anh. Ở dây chúng ta thấy sự nhận thức khả năng học hỏi của con người rất nhạy bén. Do đó, để kết luận, chúng ta thấy rõ được cái bản tính khác biệt giữa khả năng học hỏi của con người và khả năng học hỏi của loài động vật là đây.
D. TRUYỀN ĐẠT VĂN HÓA LÀ TRUYỀN ĐẠT TƯ TƯỞNG
Qủa thực sự truyền đạt giáo dục-văn hóa đòi hỏi một sự truyền đạt những tư tưỏng. Những tư tưởng này là sự truyền đạt cá nhân bởi nhóm người qua những phương tiện biểu tượng, ký hiệu để hiểu biết cả nhóm. Con ngưòi sáng tạo nên biểu hiệu, ký hiệu. Con người có thể nối kết những tư tưởng, biểu tượng trừu tượng của mình bằng màu sắc, bằng ký hiệu, bằng âm thanh, bằng hành động và bằng cả những đối tượng và nhiều sự kiện khác nhau của mình. Những biểu tượng và ký hiệu này là được sử dụng để giới thiệu lại những tư tưởng của con người, trong chiều hướng mà những biểu tượng này đã tạo nên một ý nghĩa đặc biệt.
Thế dó chỉ có con người là có khả năng sử dụng những biểu tượng, sử dụng những trừu tượng này. Nhất là, con ngưòi biết sử dụng những âm thanh phát âm, hay ngôn ngữ để giới thiệu lại tư tưởng của mình đã nghĩ ra. Các hành động, tác động và những cử điệu biểu tượng này, là hoàn toàn đặc thù của con người. Con nguời tạo nên có các điều này là để trao lại, truyền đạt những lý do, những phưong tiện, những sáng tạo, các phát minh của mình cho người đời sau ; nhất là các giá trị của chúng thành như là một triết lý của sự sống. Thực vậy, chúng ta hay rằng những cử chỉ, những biểu hiệu dạy dỗ và thụ giáo này, là mỗi thế hệ đều góp phần tăng thêm kinh nghiệm sự sống cho xã hội trong việc giữ gìn, bảo tồn dưới cái dạng thức là văn hóa. Chúng ta có thể nói tóm lại, văn hóa là khả năng của trừu tưọng (the power of abstraction ; la faculté d’abstraction), và những dạng thái của biểu tượng.
Do đó nhờ việc học hỏi, đào luyện văn hóa nhân bản và đạo lý mà con người chúng ta khám phá vũ trụ, khám phá và hiểu được những gía trị lớn lao của văn hóa và văn mình cùng tiến bộ của con người, hầu tạo nên nhân vị xứng đáng cho chính mình : như cái đẹp, điều lành, điều đúng, lẻ phải, công bình, công lý, quyền lợi, nhân phẩm, nhân quyền, bổn phận và trách nhiệm vv… Và cũng nhờ văn hóa nhân bản và đạo lý con người, mà chúng ta có thể hiểu biết các môn khoa học nhân văn, khoa sinh vật học và tự nhiên học, khoa học chính trị-kinh tế, khoa luật học và khoa y khoa học cùng khoa học nghệ thuật cùng mỹ thuật vvv… Cũng như chúng ta nhờ văn hóa nhân bản và đạo lý, thì có thể hiểu biết những sự việc siêu việt của lãnh vực tâm linh như tôn giáo cùng Thượng Đế.
Đẹp thay chính nhờ văn hóa nhân bản và đạo lý trao lại cho chúng ta sự tự do. Bởi qua văn hóa nhân bản và đạo lý truyền thống giúp chúng ta gặp gỡ và giao thiệp. Vả nữa, mỗi một con người trong ngẫu nhiên, trong tự nhiên của mình, trong khu vực minh sống qua người hàng xóm, qua bạn bè và ngưòi thân thích, qua môi trường chúng ta sống, chính là nhờ văn hóa nhân bản và đạo lý truyền thống mà chúng ta gặp gỡ, trao đổi, đối thoại, học hỏi lẫn nhau. Để kết luận, chúng tôi nghĩ văn hóa nhân bản và đạo lý truyền thống là cái gíá trị vô cùng, tạo nên nhân vị, nhân phẩm cho chúng ta, tạo nên nhân cách cùng sự hiểu biết của ta, nhờ đó càng tăng phẩm giá cho chúng ta và cộng đồng dân tộc ta thêm tự hào và tự tin trên con đường thăng tiến, để giải thể chế độ cộng sản Hà Nội và loại bỏ nền văn hoá xã hội chủ nghĩa, là văn hoá của hận thù, đói khổ và sự chết.
Nam Giao Lê Thiện Bình
| 5.294.266 | |
| 10 |