Tin quốc ngoại

Tin tổng hợp thế giới

Thêm vào danh sách yêu thíchPhản hồi thông tinBản inĐăng tải ngày: 21/11/2011
Tin tổng hợp thế giới

Xã luận của tờ Hoàn Cầu Thời Báo số ra ngày 18/11/2011 cảnh báo các nước láng giềng châu Á về nguy cơ bị Trung Quốc trừng phạt kinh tế nếu các nước đó được Mỹ yểm trợ trong cuộc đọ sức với Bắc Kinh tranh chấp chủ quyền trên biển Hoa Nam (tức Biển Đông).


Trung Quốc dọa trừng phạt kinh tế các láng giềng châu Á

                                   Thanh Ha (rfi vietnamese) - Thứ sáu 18 Tháng Mười Một 2011
 
                                                                  Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo (Trái)  và Tổng thống Philippines Benigno Aquino tại Thượng đỉnh Bali ngày 18/11/2011.
                                           Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo (Trái) và Tổng thống Philippines Benigno Aquino
                                           tại Thượng đỉnh Bali ngày 18/11/2011 - REUTERS/Sonny Tumbelaka

Xã luận của tờ Hoàn Cầu Thời Báo số ra ngày 18/11/2011 cảnh báo các nước láng giềng châu Á  về nguy cơ bị Trung Quốc trừng phạt kinh tế nếu các nước đó được Mỹ yểm trợ  trong cuộc đọ sức với Bắc Kinh tranh chấp chủ quyền trên biển Hoa Nam (tức Biển Đông).

Lời cảnh báo trên đây được đưa ra đúng vào lúc bế mạc thượng đỉnh ASEAN lần thứ 19 tại Bali. Hoàn cầu Thời báo đe dọa « Bất kỳ một quốc gia nào muốn trở thành quân cờ của Mỹ sẽ mất đi cơ hội gặt hái những thành quả kinh tế của Trung Quốc ».
 
Trung Quốc là nền kinh tế thứ nhì trên thế giới. Còn ASEAN là một trong những đối tác thương mại quan trọng của Bắc Kinh. Thặng dư thương mại hiện nghiêng về phía ASEAN chủ yếu nhờ vào xuất khẩu nguyên, nhiên liệu cho Trung Quốc.
 
AFP nhắc lại, căng thẳng đang gia tăng tại khu vực Biển Đông, nơi đang có tranh chấp chủ quyền trên biển giữa nhiều quốc gia trong Đông Nam Á với Trung Quốc. Hồ sơ Biển Đông là trọng tâm của Thượng đỉnh ASEAN vừa khép lại hôm nay (18/11/2011) cũng là một trong những chủ đề chính của Thượng đỉnh các nước Đông Á.
 
Tuy nhiên Trung Quốc không chủ trương đề cập đến vấn đề nhậy cảm này tại thượng đỉnh Đông Á với sự hiện diện lần đầu tiên của Hoa Kỳ. Bắc Kinh luôn đòi giải quyết vấn đề Biển Đông bằng đối thoại song phương.
 
Về phần mình tờ Nhân dân Nhật báo, cơ quan ngôn luận của đảng Cộng Sản Trung Quốc cho rằng : « Đưa quá nhiều các vấn đề chính trị và an ninh ra thảo luận tại Thượng đỉnh Đông Á, đặc biệt là khi có liên quan đến các vụ tranh chấp, sẽ không có lợi cho bất kỳ một kế hoạch hợp tác nào ». Trái lại điều này có nguy cơ dẫn đến tình trạng « căng thẳng trong khu vực leo thang ».
 
Lập trường của báo chí Trung Quốc đã được chính thủ tướng Ôn Gia Bảo xác định lại. Đến Bali để chuẩn bị dự Thượng đỉnh Đông Á lần thứ 6, ông tuyên bố: « Các lực lượng từ bên ngoài không nên viện bất kỳ một lý do nào để can thiệp » vào tranh chấp chủ quyền ở khu vực Biển Đông. Đây là một hồ sơ đã kéo dài nhiều năm và phải được các bên liên quan giải quyết bằng các con đường đối thoại « hữu nghị và trực tiếp ».
 
Theo giới phân tích, thông điệp này của lãnh đạo Trung Quốc nhắm trực tiếp vào Hoa Kỳ sau khi tổng thống Mỹ vào sáng nay đã nhấn mạnh rằng Thượng đỉnh Đông Á phải là nơi để các bên cùng làm việc trên rất nhiều các hồ sơ, chẳng hạn như là vấn đề liên quan đến an ninh trên biển và hồ sơ chống phổ biến vũ khí hạt nhân.
                                                 ~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~
               Thượng đỉnh Đông Á bác bỏ lập luận về Biển Đông của Trung Quốc
                      Trọng Nghĩa (rfi vietnamese) - Thứ bảy 19 Tháng Mười Một 2011
                                                             
                                                                 
                                                                   Tổng thống Obama dự Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á tại Bali (Reuters)
                                                          Tổng thống Obama dự Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á tại Bali (Reuters)
                                                                      AUDIO

 
Vào hôm nay 19/11/2011, Tổng thống Mỹ Barack Obama đã chính thức nêu vấn đề Biển Đông ra trước diễn đàn của Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á, nhấn mạnh thêm tính chất quốc tế của hồ sơ này. Bên cạnh đó, vấn đề Biển Đông cũng được gợi lên trong rất nhiều cuộc họp song phương và đa phương.
 
Trung Quốc luôn luôn bác bỏ những lời kêu gọi quốc tế hóa hồ sơ Biển Đông, nơi họ viện dẫn yếu tố lịch sử để đòi chủ quyền trên hầu hết vùng biển này. Trong những ngày qua, Bắc Kinh đã hoài công chống lại ý định của Tổng thống Mỹ Barack Obama muốn nêu vấn đề Biển Đông ra trước Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á – gồm 18 nước - vào hôm nay, 19/11/2011 tại Bali. Chẳng những thế, quan điểm chủ quyến lịch sử của Trung Quốc hầu như đã bị toàn bộ các nước có mặt tại Bali phủ nhận. Đặc phái viên Trọng Nghĩa tường trình từ Bali.
 
Thực tế trong những ngày qua tại các cuộc họp ở Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ 19 này cho thấy là Bắc Kinh bị đẩy vào thế thủ, do quan điểm đòi chủ quyền rộng khắp trên Biển Đông của họ dựa trên yếu tố lịch sử.
 
Trong nhiều cuộc họp song phương hay đa phương, kể cả trong các cuộc họp với Trung Quốc, vấn đề này đã được gợi lên và đi đến cùng một kết luận : tranh chấp phải được giải quyết trên tinh thần tôn trọng luật lệ quốc tế.
 
Nhật Bản : Nguyên tắc của luật pháp quốc tế cần được tôn trọng tại Biển Đông
Ví dụ rõ nhất là trường hợp Nhật Bản. Vào hôm qua, thủ tướng Noda đã có hai cuộc họp thượng đỉnh liên tiếp, một với 10 lãnh đạo ASEAN, và một với 5 lãnh đạo các nước vùng Mekong. Trong bản thông cáo chung của cuộc họp thượng đỉnh Nhật Bản – Mekong chẳng hạn, hai bên đã gợi lại vấn đề Biển Đông, và nhấn mạnh đến sự cần thiết phải tôn trọng các nguyên tắc của luật pháp quốc tế được mọi người thừa nhận. Các nguyên tắc này bao gồm tự do hàng hải và giải quyết hòa bình các tranh chấp.
 
Trước đó, trong cuộc họp với ASEAN, Thủ tướng Noda cũng kêu gọi ASEAN ủng hộ sáng kiến về việc tổ chức một hội nghị đa phương về an ninh và an toàn hàng hải trong vùng, « phù hợp với các nguyên tắc của luật pháp quốc tế ». Yêu cầu này đã được ASEAN đáp ứng.
 
Dù không nói trắng ra, nhưng khái niệm tôn trọng luật quốc tế - đặc biệt là Công ước LHQ về Luật Biển năm 1982 – được nhắc lại ở đây, là nhằm phản bác quan điểm của Bắc Kinh theo đó Biển Đông thuộc về Trung Quốc, họ là người tìm thấy trước tiên, một quan điểm từng được nhiều học giả Trung Quốc phát triển theo hướng yếu tố lịch sử có giá trị trên hết.
 
Chắc chắn là sự đồng thuận giữa Nhật Bản với ASEAN trên hồ sơ gọi là an ninh hàng hải tại Biển Đông này không thoát khỏi sự cảnh giác của Trung Quốc, nhất là khi gần đây, Tokyo đã công khai tăng cường hợp tác quốc phòng với hai nước ASEAN đang bị Bắc Kinh chèn ép dữ dội là Việt Nam và Philippines.
 
Ngoài Nhật Bản, vấn đề Biển Đông còn thu hút mối quan tâm của các nước nào khác ?
Như đã tường trình trong những ngày qua, Biển Đông là một trong những trọng tâm thảo luận của nội bộ các nước ASEAN và lẽ dĩ nhiên là của Hoa Kỳ. Theo tiết lộ của Ngoại trưởng Philippines Del Rosario, trong Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ ASEAN vào hôm qua, Tổng thống Obama đã nhấn mạnh với các lãnh đạo ASEAN là vấn đề Biển Đông nên được giải quyết một cách đa phương, với ASEAN như một tổng thế hay là với các nước có tranh chấp gộp lại.
 
Cũng theo Ngoại trưởng Philippines, ông Obama còn nhắc lại là các bên phải giải quyết tranh chấp một cách hòa bình, phù hợp với luật lệ quốc tế, áp dụng đúng Công ước LHQ về Luật Biển.
Ngay cả một nước xa lạ với Biển Đông là Ấn Độ cũng tỏ thái độ bất đồng tình với đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc tại Biển Đông. Trong cuộc gặp song phương với đồng nhiệm Trung Quốc Ôn Gia Bảo vào hôm qua, Thủ tướng Ấn Độ Manmohan Singh đã thông báo là New Delhi vẫn xúc tiến công việc thăm dò dầu khí ngoài Biển Đông, tại khu vực được Việt Nam giao quyền khai thác. Theo ông Singh, đó là một vấn đề “thuần túy thương mại”.
 
Tuyên bố này đã mặc nhiên bác bỏ lời phản đối chính thức mà Bắc Kinh đưa ra cho là tập đoàn dầu khí quốc gia Ấn Độ ONGC Videsh đã xâm pham vùng biển thuộc chủ quyền của Trung Quốc.
Không những thế, theo một quan chức ngoại giao Ấn Độ, Thủ tướng Singh còn nói với đồng nhiệm Trung Quốc Ôn Gia Bảo là các vấn đề chủ quyền phải được giải quyết trên tinh thần tôn trọng luật lệ quốc tế.
 
Phản ứng của Trung Quốc như thế nào ?
Phải nói là tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần này, Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo đã cố gắng giữ thái độ hòa hoãn. Ngay cả khí ông Manmohan Singh đưa ra các tuyên bố kể trên, Thủ tướng Trung Quốc hầu như không phản ứng. Thái độ chính thức của Trung Quốc được thể hiện rõ trong bản Thông cáo chung về Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN – Trung Quốc vào hôm qua.
 
Trong phần đề cập đến hợp tác chính trị và an ninh hai bên cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ của nhau, và giải quyết tranh chấp một cách hòa bình qua đối thoại, và không dùng hay đe dọa dùng võ lực.
 
Riêng về Biển Đông, có thể nói là Bắc Kinh đã cam kết thực thi bản Tuyên bố về Ứng xử tại Biển Đông DOC, và cố gắng tiến tới việc thong qua một bản quy tắc ứng xử tại Biển Đông.
 
Mặt khác, Trung Quốc cũng đồng ý là sẽ hợp tác để tăng cường việc bảo đảm quyền tự do hàng hải theo tinh thần Công ước LHQ về Luật Biển năm 1982.
 
Vấn đề được nhiều nhà phân tích ở đây nêu lên là liệu Trung Quốc có tôn trọng những cam kết hay hứa hẹn nói trên hay là lại tìm cách dùng sức mạnh để áp đặt các đòi hỏi chủ quyền của họ?
 
Dẫu sao thì có thể nói rằng tại Hội nghị Bali kết thúc vào hôm nay, Bắc Kinh bị đơn độc trên vấn đề Biển Đông vì không có một nước nào khác lên tiếng ủng hộ quan điểm chủ quyền của Trung Quốc".


 
                                          ẤN ĐÔ SẴN SÀNG ĐÓN ĐÒN TRUNG QUỐC TẠI BIỂN ĐÔNG               ~~~~~~~~~~~~~~~~~
__._,_.___



rất hay... tàu cộng đang tứ bề thọ địch .... dù tàu cộng có tránh né rút lui .... cũng không thể được nữa rồi .. có hối hận vì tham vọng của mình cũng trễ rồi .... thế liên hoàn Mỹ Ấn Asian Úc đã thành hình ...
Tàu cộng nhất định bị tấn cộng .... và nhất định sẽ bị tan tác


Subject: Dàn quân
Nguyễn Đạt Thịnh
Trong chuyến thăm viếng Ấn Độ ngày 19 tháng Bẩy, ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton nói với giới lãnh đạo Ấn là họ cần vượt ra ngoài biên giới Ấn để nhận lãnh toàn bộ trách nhiệm chiến lược trong địa phương Nam Á, nhất là trong vùng Biển Đông.Câu nói của người nắm quyền lực ngoại giao Hoa Kỳ làm tình hình Á Châu chuyển động mạnh: Ấn ký với Việt Nam khế ước khai thác 2 giếng dầu 127 và 128 trong vùng kinh tế đặc quyền của Việt Nam, song song với những hiệp ước hợp tác quân sự Việt Ấn, đưa đến việc chiến hạm Airavat đang di chuyển ngoài khơi Nha Trang đột ngột nói là có người lên băng tần truyền tin cảnh cáo Airavat đang vi phạm lãnh hải Trung Quốc. Phát ngôn viên ngoại giao của Tầu, bà Khương Du, phủ nhận là hải quân Trung Quốc không hề cảnh cáo Airavat, tuy nhiên, phủ nhận một việc không xẩy ra là điều rất khó làm, huống chi phủ nhận một diễn tiến trên Biển Đông, liên quan đến 3 địa hạt không ai đồng ý với ai cả: một là ranh giới của vùng đặc quyền kinh tế của mỗi nước, hai là lãnh hải lưỡi bò của Trung Quốc, và ba là sở hữu chủ của những giếng dầu được nói là rất lớn, nằm dưới lòng Biển Đông. Xét kỹ việc chiến hạm Airavat bị cảnh cáo thì chỉ 1 phần 10 việc này có thể có thật, nhưng đến 9 phần 10 là giả thuyết Ấn tạo ra để đòi bạch hóa 3 điểm mù mờ vừa nêu. Trung Quốc không coi nhẹ việc Ấn vào Biển Đông, nhất là sau cuộc viếng thăm Hà Nội của ngoại trưởng Ấn Độ Ranjan Mathai. Họ gia tăng nỗ lực tạo dư luận chống Ấn, nhưng vẫn chưa đưa một chiến hạm nào vào Biển Đông, trong lúc Ấn đã đưa chiếc tầu đổ bộ Airavat vào thăm Nha Trang và Hải Phòng; và Nhật đưa chiếc M.T. Choyo, đến thăm dò môi trường đặt nhà máy điện nguyên tử tại Ninh Thuận. Đối phó với việc Ấn đưa chiến hạm vào Biển Đông, Trung Quốc chỉ nâng cao mức độ khẩu chiến; họ đưa thêm nhiều cơ quan truyền thông của chính phủ tham dự cuộc đánh võ mồm. Tờ báo Anh ngữ Global Times viết, "Bắc Kinh phải cương quyết hơn trong nỗ lực ngăn chặn ONGC (hãng dầu quốc doanh của Ấn), không cho hãng này xúc tiến việc khui giếng dầu trong hải phận Trung Quốc." Việc một tờ báo của Bắc Kinh bảo Bắc Kinh phải làm gì là một nét luẩn quẩn trong sinh hoạt truyền thông cộng sản; tuy nhiên, cho đến giờ này tờ Global Times khá thành công trong việc khích động tinh thần quốc gia của người Hoa. Tờ báo thất bại trong trọng trách thứ nhì là đe dọa những quốc gia Biển Đông về hiểm họa chiến tranh với lập luận nước nào chống lại Trung Quốc là gây chiến với Trung Quốc. Về khế ước khai thác hai giếng dầu trong vùng kinh tế độc quyền của Việt Nam, tờ Global Times viết, "Nếu Ấn không thay đổi thái độ sau những phản kháng ngoại giao, Trung Quốc phải sử dụng mọi phương tiện khác để ngăn cấm việc Ấn khui giếng dầu trong lãnh hải Trung Quốc." Ấn trả lời là những đòi hỏi chủ quyền lãnh hải của Trung Quốc không dựa trên một căn bản nào vững chãi cả, trong lúc theo luật biển thế giới năm 1982, ấn định vùng kinh tế đặc quyền (KTĐQ) của mỗi quốc gia là 200 hải lý (322 cây số), thì hai lô 127 và 128 nằm bên trong vùng KTĐQ của Việt Nam, và Việt Nam có đầy đủ tư cách sở hữu chủ để ký khế ước trao việc khai thác giếng dầu cho Ấn. Trung Quốc nói khế ước giữa Việt Nam và Ấn Độ bất hợp pháp vì không có sự đồng ý của Trung Quốc, quốc gia sở hữu chủ của cả hai lô. Chuyên viên Ấn nói đo từ mũi chót của đảo Hải Nàm xuống đến 2 lô dầu khí này thì khoảng cách lên đến 1,200 cây số. Vị trí của chiếc Airavat, khi hạm trưởng chiến hạm này nói là ông nhận được cảnh cáo vi phạm lãnh hải Trung Quốc, chỉ cách bờ biển Nha Trang có 45 hải lý, có nghĩa là hải phận Trung Quốc rộng hàng ngàn hải lý và bao trùm lên vùng KTĐQ của Việt Nam. Ngoại trưởng Ấn Krishna còn nói với các phóng viên tại Hà Nội là "Dù có sự chống đối của Trung Quốc, hãng dầu Ấn ONGC vẫn tiếp tục xúc tiến việc khui giếng dầu trong 2 lô đã ký khế ước với Việt Nam. Ông còn nói Nhà Nước cộng sản Việt Nam cam kết sẽ tích cực yểm trợ việc làm của ONGC. Việc Việt Cộng thay đổi lập trường là điều đáng mừng, dù thay đổi này vẫn còn mang tính cục bộ. Hà Nội sắp được giao hàng nhiều tiềm thủy đĩnh tấn công mà họ đặt mua của Nga; thứ vũ khí này có tác dụng du kích trong hải chiến. Dù nhỏ, nhưng tiềm thủy đĩnh vẫn có khả năng bắn chìm những chiến hạm lớn hơn, nếu không bị địch khám phá ra sự hiện diện của tầu dưới mặt biển. Thái độ nhập cuộc của Ấn, và những gì ngoại trưởng Ranjan Mathai tiết lộ cho Hà Nội biết có thể là động cơ khiến Hà Nội quay ngược 180 độ. Một tay cựu tình báo nổi danh của Ấn, ông B. Raman, nói thái độ của Ấn cho thấy họ ý thức được, và sẵn sàng chấp nhận một cuộc chạm trán võ trang với Trung Quốc. Nhưng Trung Quốc chưa sẵn sàng, họ tiếp tục khẩu chiến và chỉ trích Hoa Kỳ đứng sau lưng làm hậu thuẫn cho Ấn với lời hứa hẹn Hạm Đội 7 sẽ nhanh chóng nhập cuộc ngay khi Ấn có nhu cầu trợ chiến. Bắc Kinh nói Ấn đã lầm khi tưởng là chiến lược "Sợi chuỗi hột pearls" (string of pearls) của Trung Quốc, nhắm mục đích cô lập hóa Ấn, phát ngôn viên quốc phòng Trung Quốc phủ nhận là Trung Quốc không hề nuôi ý đồ bao vây Ấn. Trung Quốc có thái độ cầu hòa với Ấn, và cả với những quốc gia ven Biển Đông. Thái độ này rõ rệt đến mức đài BBC cho là họ có thể hủy bỏ lãnh hải "lưỡi bò" để tránh một va chạm quân sự đang mỗi lúc một trở thành hiện thực hơn. Tháng Tám 2011, Phó Đô đốc Scott Van Buskirk, Tư lệnh Hạm đội 7 đến thăm đến Hà Nội và hội đàm với Trung tướng Trần Quang Khuê, Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam. Chính phủ Mỹ cho phép Buskirk thực hiện những biện pháp chữa trị y tế giúp đỡ người Việt Nam như một thái độ thân thiện giữa hai đạo quân từng giao tranh ác liệt trên chiến trường. Ngoài việc chọn Ấn đứng mũi chịu xào trong cuộc dàn quân trên Biển Đông, Hoa Kỳ còn tạo thế liên kết quân sự giữa những quốc gia khác; ngày 20 tháng Chín, tổng thống Phi Benigno Aquino III đến Nữu Ước hội đàm với nhiều chính khách Hoa Kỳ. Trong một cuộc nói chuyện trước những hội viên của Asia Society ông nhấn mạnh về chính sách đặt nặng việc bảo vệ lãnh hải. Biển Nam Hải được người Phi đổi tên là biển Tây Phi, như Việt Nam đổi Nam Hải thành Biển Đông. Ông nói Phi Luật Tân tìm kiếm một thế mạnh để răn đe Trung Quốc đừng xâm phạm lãnh hải Phi. Aquino III trình bầy là trong 6 quốc gia đòi chủ quyền trên quần đảo Trường Sa, Trung Cộng muốn dùng sức mạnh để độc chiếm; 6 quốc gia ông đề cập đến là Brunei, Mã Lai, Phi, Việt Nam, Đài Loan, và Trung Quốc. Do đó ông và lãnh tụ 4 quốc gia còn lại mưu tìm một thế mạnh hải quân. Khoảng cách giữa Đài Loan và Trung Quốc với Trường Sa quá xa để họ đòi chủ quyền, nhưng Trung Quốc nói tất cả những hải đảo trên Biển Đông đều là tài sản lịch sử của họ, và mỗi hòn đảo này lại có một vùng kinh tế đặc quyền 200 hải lý bao quanh, nên toàn bộ Biển Đông là của họ, trừ khoảng 12 hải lý hải phận của mỗi nước. Chuyến viếng thăm Hoa Kỳ được tiếp nối bằng việc Nhật Hoàng Akihito mời Aquino III sang thăm Nhật để cùng với thủ tướng Nhật Yoshihiko Noda ký kết một hiệp ước hổ tương quân sự. Nằm ngoài cuộc tranh chấp Biển Đông, nhưng Nam Dương vẫn nhập cuộc, bằng một thỏa ước quân sự với Việt Nam tạo ra những cuộc tuần tiễu chung của chiến hạm 2 nước. Cuộc dàn quân đưa Ấn vào vị trí đối đầu với hải quân Trung Cộng, hai hải lực không tương đương hoàn toàn, nhưng thế hơi yếu hơn của Ấn được bù đắp bằng hải lực đang được tăng cường của các quốc gia ven Biển Đông, chưa kể hải lực Nhật, Úc, và thế ứng chiến của Đệ Thất Hạm Đội. Đối phó với cuộc dàn quân này, Trung Quốc không có đồng minh nào, trừ Bắc Hàn, để tạo thế liên minh tấn chiếm Biển Đông. Họ cũng không có cách nào đuổi hãng ONGC ra khỏi hai giếng dầu 127 và 128, và hậu quả của thế bất lực quân sự đó sẽ đưa những hãng dầu khác trở lại Biển Đông. Mặc dù câu châm ngôn chiến lược "giặc cùng, đừng đuổi" có thể rất khôn ngoan, nhưng thế cùng của Trung Quốc vẫn không đưa đến chiến tranh, vì Bắc Kinh đủ khôn ngoan để hiểu là hải quân của họ không trốn được vào rừng để đánh du kích; mặt khác họ cũng ý thức được là hải lực của họ có thể bị tiêu diệt trong một cuộc hải chiến không dài hơn 1 tuần lễ. Không còn hải quân Trung Quốc lại hiện nguyên hình là một sức mạnh bộ chiến, để thỉnh thoảng xua lục quân sang những nước láng giềng đánh những trận chiến biên giới để dành đất và để "dạy một bài học" như họ đã dạy Ấn năm 1962, và dạy Việt Nam năm 1979. Phải khen Hillary Clinton bằng câu "đàn bà dễ có mấy tay; đời xưa mấy mặt, đời này mấy gan", bà quả là một tay ngoại trưởng cứng cỏi mà khéo léo, biết cách răn đe, bắt anh du côn địa phương Trung Quốc ngồi im mà không tốn một viên đạn nào cả. Không chỉ riêng một mình Hồ Cẩm Đào nổi da gà, mà cả Thúc Sinh Bill Clinton cũng nể bà nội tướng ngoại trưởng này, không còn bao giờ dám "léng phéng" gì nữa.
Nguyển đạt Thịnh
                                               Ý Nghĩa Cuộc Tranh Đấu Của Thái Hà
(11/21/2011)
Ý Nghĩa Cuộc Tranh Đấu Của Thái Hà

BBT Tự do Ngôn luận
Tổng Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình, vị chức sắc từng cai quản Giáo phận Công giáo Sài Gòn, có lần sang Rôma trước năm 1975 và gặp được nhiều lãnh đạo của các Giáo hội bên Đông Âu Cộng sản. Nghe biết các vị ấy quyết tâm đòi lại đất đai cơ sở bị nhà cầm quyền tịch thu từ sau Đệ nhị Thế chiến, TGM Bình khi trở về Việt Nam, có nhận xét trước thuộc cấp rằng các lãnh đạo Đông Âu ấy xem ra thiếu tinh thần nghèo khó, tinh thần từ bỏ, khư khư ôm lấy của cải! Đến khi chính VN rơi vào tay CS và mọi Giáo phận đều bị nhà cầm quyền tước đoạt hàng ngàn cơ sở, hàng vạn mảnh đất, chẳng còn mấy tài sản để sinh hoạt đạo, bấy giờ TGM Bình mới thấm thía và cảm thông với các đồng nghiệp mà mình nay cùng ở sau bức màn sắt và cùng mang gông cùm sắt như họ.
Vấn đề sở hữu và tranh chấp tài sản (đất đai, cơ sở) của cá nhân hay cộng đoàn với nhà nước trong các quốc gia CS không hề là vấn đề dân sự, hình sự, nhưng là vấn đề chính trị. Bởi lẽ việc quốc hữu hóa (đúng ra là đảng hữu hóa) đất đai và một số loại cơ sở dưới mỹ từ “toàn dân sở hữu, nhà nước quản lý” là một nguyên tắc cai trị chủ yếu, một đường lối chính trị cơ bản của CS. Có nắm mọi tài sản (đất thổ cư và đất trồng trọt, hay cơ sở như trường học, tòa báo, nhà in, nhà xuất bản, đài phát thanh, đài truyền hình...), nhà cầm quyền CS mới có thể nắm dạ dày và nắm tim óc, kiểm soát hành vi và kiểm soát tư tưởng của nhân dân, nhất là nhân dân trong các cộng đồng tôn giáo, để công cụ hóa tất cả (đặc biệt các lực lượng tinh thần) hầu duy trì ách thống trị dài lâu. Điều này, ngay nhiều chính khách ngoại quốc thuộc các nước dân chủ (thậm chí cả Vatican) đang làm việc tại hay liên hệ với VN có lúc cũng không nắm vững. Chẳng hạn Wikileaks mới đây cho biết tòa Đại sứ Hoa Kỳ và hồng y Bernard Law (người Mỹ) đã xem việc TGM Ngô Quang Kiệt cùng giáo dân Hà Nội đòi lại tòa Khâm sứ năm 2008 hay việc giáo xứ Đồng Chiêm trồng cây Thập giá trên Núi Thờ rồi Thập giá bị phá hủy năm 2009 chỉ là chuyện tranh chấp một miếng đất với nhà cầm quyền bản địa (nên đã không ủng hộ các chức sắc và giáo hữu trong hai vụ việc này).
Thành ra mới đây, khi Dòng Chúa Cứu Thế và Giáo xứ Thái Hà, Hà Nội, mạnh mẽ đòi lại các mảnh đất và cơ sở của mình, cụ thể là bệnh viện Đống Đa, qua Kiến nghị ngày 7-10-2011, yêu cầu Ủy ban Nhân dân thành và UBND quận ngưng thực hiện dự án xây dựng trạm xử lý nước thải Bệnh viện trên khu đất của Dòng bị lấn chiếm trái phép và giao trả tài sản cho Nhà thờ và Tu viện để sử dụng đúng vào mục đích tôn giáo; tiếp đó qua bảng chữ điện tử lắp đặt trên tầng 7 của tu viện vào ngày 26-10 mang nội dung: “Yêu cầu nhà cầm quyền trả lại Tu viện đang mượn làm bệnh viện Đống Đa cho Dòng Chúa Cứu Thế Hà Nội và trả lại Hồ Ba Giang cho Giáo xứ Thái Hà”; rồi cuối cùng qua lá Đơn ngày 27-10-2011 gởi đến các UBND nói trên và Sở Y tế Hà Nội lẫn Bệnh viện Đống Đa để nhắc lại yêu cầu hoàn trả cho Dòng và Giáo xứ toàn bộ Tu viện. Khi làm như thế thì không hẳn là tranh chấp đất đai với nhà cầm quyền địa phương nhưng là khẳng định tự do tôn giáo, một tự do vốn bao hàm quyền có cơ sở để hoạt động (hoạt động tôn giáo, hoạt động truyền giáo và hoạt động xã hội). Bởi lẽ sự việc Nhà dòng và Giáo xứ, từ một diện tích 61.455m2 (được các tiền nhân dự liệu cho những hoạt động rộng lớn trong tương lai) bị nhà cầm quyền CSVN tước đoạt cách bất hợp pháp 58.755m2, chỉ còn trừa cho 2.700 vuông đất nhỏ xíu, là một hành vi đàn áp và tiêu diệt tôn giáo đúng nghĩa và thô bạo.
Ngoài ra, khi Dòng Chúa Cứu Thế và Giáo xứ Thái Hà yêu cầu trả lại các mảnh đất và cơ sở ấy (một việc vốn đã khởi sự cách mạnh mẽ từ đầu năm 2008 qua vụ công ty may Chiến Thắng), thì đó chính là đòi lại quyền tư hữu đất đai, là đánh vào nguyên tắc cai trị, đường lối chính trị hết sức bất công và phi lý của chế độ CS là “đảng hữu thổ địa”, theo đúng tinh thần của Hội đồng Giám mục Việt Nam trong Quan điểm ngày 25-09-2008. Quan điểm này có đề cập tới những bất cập (đúng ra là sai trái) của Luật đất đai hiện hành (do đảng ban ra) và yêu cầu sửa đổi nó ở một điểm rất cơ bản: “Việc sửa đổi [luật đất đai] cần phải quan tâm đến quyền tư hữu của người dân như Tuyên ngôn quốc tế của Liên hiệp quốc về Nhân quyền đã khẳng định: “Mọi người đều có quyền tư hữu riêng mình hay chung với người khác… và không ai có thể bị tước đoạt tài sản của mình cách độc đoán” (số 17). Vì thế, chúng tôi cho rằng thay vì chỉ giải quyết theo kiểu đối phó hoặc cá biệt, thì giới hữu trách phải tìm giải pháp triệt để hơn, tức là để người dân có quyền làm chủ tài sản, đất đai của họ, đồng thời người dân cũng phải ý thức trách nhiệm của mình đối với xã hội. Đòi hỏi này lại càng khẩn thiết hơn trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày nay, khi Việt Nam ngày càng hội nhập sâu hơn vào nhịp sống chung của thế giới. Đây sẽ là tiền đề cho việc giải quyết tận gốc những vụ khiếu kiện về đất đai và tài sản của người dân…”. Hội đồng GMVN biết việc chuyển quyền sở hữu đất đai vào tay đảng CS là yếu huyệt cơ bản của chế độ, là nền tảng cho sự tồn tại của độc trị độc tài, là nguyên nhân chính gây ra bao nỗi bất công trong xã hội. Thành thử vị chủ tịch của Hội đồng, đang cai quản Tòa Giám mục Hà Nội, đã tức tốc khẳng định quyền sở hữu đất đai và quyền đấu tranh cho đất đai của Thái Hà qua Văn thư ngày 4-11-2011: “Tòa Tổng Giám mục Hà Nội luôn khẳng định và tôn trọng quyền Sở hữu của Dòng Chúa Cứu thế trên khu đất 61.455m2 tại 180 Nguyễn Lương Bằng, Đống Đa bao gồm cả cơ sở và các phần đất mà các cơ quan nhà nước đang sử dụng trên diện tích này”. Vị chức sắc cai quản Giáo phận Kontum là Giám mục Hoàng Đức Oanh, một chứng nhân nổi bật hiện thời cho sự thật và lẽ phải, cũng đồng cảm và đồng thuận với Thái Hà qua Văn thư tương tự ngày 5-11 tiếp đó.
Hơn nữa, khi tiến hành các việc kể trên, cũng như khi quyết tâm dùng sức mạnh tập thể lấy lại các phần đất thừa hưởng từ tổ tiên tiền bối từ đầu năm 2008 (chưa kể bao lần đưa văn thư trước đó), Dòng Chúa Cứu Thế và Giáo xứ Thái Hà đã thực sự đấu tranh cho công lý, cho lẽ phải. Bởi lẽ nguyên nhân chủ yếu gây ra bất công toàn diện trong xã hội Việt Nam hiện thời chính là việc người dân không có quyền tư hữu đất đai, và toàn dân không có quyền định đoạt về lãnh thổ, khiến đảng và nhà cầm quyền CS địa phương tự tung tự tác cướp đoạt công thổ và tư thổ để chia nhau hay bán cho ngoại kiều, rồi đảng và nhà cầm quyền CS trung ương tự ý tự tiện nhượng đất nhượng biển cho ngoại bang, nhất là lân bang Trung Cộng. Cuộc đấu tranh cho công lý này còn thể hiện qua việc giáo dân Thái Hà (dưới sự hướng dẫn của các linh mục DCCT) làm chứng cho sự thật và lẽ phải một cách kiên cường, dũng cảm trước tòa án Cộng sản trong phiên xử sơ thẩm ngày 08-12-2008 rồi trong phiên xử phúc thẩm ngày 27-03-2009. Ai mà quên được hình ảnh đoàn người (đặc biệt 8 bị cáo giáo dân) tay cầm lá vạn tuế đi từ Hà Nội về Hà Tây trong ngày phúc thẩm; những bài ca vừa bộc lộ ý chí bất khuất vừa chan chứa tình yêu không thù hận (như Kinh Hòa bình, Con đường nào Ngài đã đi qua…) vang lên trong sân tòa án; những lời đối đáp đầy khôn ngoan can đảm, sắc bén lý luận của các giáo dân vô tội trước hội đồng xét xử… Cuộc đấu tranh cho công lý ấy còn thường xuyên bày tỏ qua việc Thái Hà ngày càng trở nên tụ điểm của niềm tin và hy vọng, nơi giáo cũng như lương tụ tập hàng ngàn người để cầu nguyện và lên tiếng cho các dân oan bị cướp đất đoạt nhà, cho các thanh niên thiếu nữ bị bán làm lao nô hay tình nô, cho các chiến sĩ nhân quyền bị bắt bớ tù tội, cho các lãnh đạo tinh thần bị bách hại vì công lý, cho các vùng đất biển của Tổ quốc bị lấn chiếm bởi tay Trung Cộng… Tất cả đều nằm trong đường hướng mục vụ hiện tại của Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam, một đường hướng đã được trình bày nhiều lần bởi vị lãnh đạo của Dòng, linh mục Giám tỉnh Vinh-sơn Phạm Trung Thành, nhất là trong bức thư “Chúa Cứu Thế không chấp nhận sự dữ hoành hành” công bố ngày 18-07-2010: “Chúng ta mừng lễ Chúa Cứu Thế khi ngay giữa trần thế đang ngổn ngang biết bao điều đau lòng, Giáo hội Việt Nam đang chòng chành trước sóng gió, thiên tai dồn dập, hạn hán, dịch bệnh, bão tố... Nhân tai gây bao điều đau khổ, ngập lụt, cướp của giết người, điện giật chết người, tai nạn giao thông, tham nhũng, nợ xấu (Vinashin), làm dâu bị đầy đọa và chết ở xứ người, phụ nữ trẻ em bị bán làm nô lệ tình dục, nạo phá thai phổ biến, oan khiên, khiếu kiện khiếu tố kéo dài,... Phần đông còn sống trong nghèo đói, bất công, bất an (thực phẩm, môi trường ô nhiễm),... Chúa Cứu Thế đã không chấp nhận tình trạng sự dữ hoành hành, Ngài ra tay ngăn chặn và chữa lành các vết thương cho nhân loại. Chúng ta cần mang sự rung cảm của Ngài trên bước đường sứ vụ, lấy ánh sáng chân lý đẩy lui bóng tối, lấy lời Chúa chữa lành vết đau và lấy tình thương của Chúa làm nội lực thăng tiến con người”. Cộng đoàn phía Nam của DCCT tại Sài Gòn, qua các cuộc thắp nến hiệp thông, các thánh lễ cầu nguyện, các bài giảng xoáy vào lẽ phải và lẽ thật ở Nhà thờ Kỳ Đồng cũng đang là chứng nhân và tác nhân cho công lý trên đất Việt.
Và dĩ nhiên cái lực lượng tồn tại trên sự chà đạp công lý, quyền tư hữu, tự do tôn giáo (tức nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam tại Đống Đa, Hà Nội) không thể không phản ứng một cách điên cuồng, bất công, phi lý, vô luật đối với Thái Hà. Đó là lấy cớ xây dựng những công trình phục vụ quần chúng để cướp đoạt tài sản nhà dòng, là chĩa loa vào nhà thờ để áp đặt tư kiến và đầu độc công luận, là kết án cách tùy tiện và tuyên phạt cách bất công những hình thức bày tỏ ý kiến của giáo xứ, là chia rẽ tôn giáo và kích động căm thù giữa đồng bào bằng những luận điệu vu khống xuyên tạc, là thuê mướn đầu gấu côn đồ và dàn dựng “quần chúng tự phát” để hành hung hăm dọa, là dùng cả bộ máy tuyên truyền và dàn báo chí công cụ để biện minh cho hành động sai trái, là trả thù bằng sách nhiễu, thẩm vấn (mãi cho tới hôm nay) những giáo dân hay công dân can đảm lên tiếng bênh vực Thái Hà …
Tất cả những hành vi ấy chỉ càng bộc lộ chính nghĩa cuộc đấu tranh của Thái Hà, càng thổi bùng ngọn lửa tranh đấu nơi cộng đoàn bất khuất này để khiến nó lan rộng toàn quốc, tạo nên cuộc đấu tranh toàn diện của toàn dân hầu giải thể chế độ toàn trị Cộng sản.
BAN BIÊN TẬP
Xã luận bán nguyệt san Tự do Ngôn luận số 135 (15-11-2011)
 

__,_._,___

                                   
ĐÔ ĐỐC NIMITZ: “KỴ SĨ TRÊN BIỂN CẢ”
Lê Chánh Thiêm
 
tka23 post
1. DẪN NHẬP:
 
Trong quân sử thế giới xưa nay, nếu được gọi là “thiên-tài” về quân sự, con số không nhiều. Ngoài Thành-Cát Tư-Hãn của Mông-Cổ, Quang-Trung hoàng-đế của Việt-nam,Nã-Phá-Luân đại-đế của Pháp, quân sử cận đại còn ghi thêm vài người, trong đó có Đô-Đốc Chester William Nimitz, vị Tướng thuộc Hải quân Mỹ trong thế chiến thứ hai. Những chiến công của ông góp phần không nhỏ tạo chiến thắng cho phe Đồng minh, giúp nhân-loại sớm thoát cảnh binh đao tang tóc sau sự đầu hàng của phe Trục, chấm dứt thế chiến thứ hai. 

  Sau cuộc đột kích Trân Châu Cảng (Pearl Harbor Raid) vào ngày 7-12-1941 của quân Nhật vào Hải quân Mỹ, Đô Đốc Chester W. Nimitz được chỉ định làm Tư Lệnh Hạm Đội Thái Bình Dương (TBD), một hạm đội chủ lực của Hải-Quân Mỹ, thay thế cựu Tư-Lệnh, Đô Đốc Husband E. Kimmel. Sau đó, dưới sự chỉ huy của ông, Hải Quân Mỹ đã thắng quân Nhật nhiều trận lớn, kiểm-soát lại được vùng đại dương bao la mà trước đó họ đã bị quân Nhật chiếm sau khi tấn công gây thiệt hại nặng cho quân Mỹ.
  Đáng kể nhất là Nimitz đã tạo chiến thắng oanh-liệt trong trận hải chiến Midway với quân Nhật dưới sự chỉ huy của Đô Đốc Nhật Isoroku Yamamoto (Sơn Bản Ngũ Thập Lục) đã nêu ra trong một bài viết khác dưới tiêu đề "Trận hải chiến Midway". Đây là một trong các tác nhân dẫn đến thế chiến thứ nhì sớm kết thúc. 
 
 
Chân dung Đô Đốc Chester W. Nimitz, hình chụp năm 1942.
 
Trong bài nầy, chúng ta hãy đọc lại thân thế, sự nghiệp của Nimitz, xem lại một số tài liệu thời ông điều binh khiển tướng với những rắc rối, bất bình giữa ông, trong cương vị một vị sĩ quan Hải quân với thuộc cấp, thượng cấp, với chính quyền, các vị chỉ huy quân sự khác, các nghị sĩ trong chính trường Mỹ và bộ máy chỉ-huy chiến tranh của Mỹ, đó là Ngũ Giác Đài. 

2. THÂN THẾ, SỰ NGHIỆP: 

Phần mở đầu cho phần nói về binh nghiệp của Nimitz, chúng ta không thể quên việc tên ông được vinh dự đặt cho một hàng-không mẫu hạm, một sự kiện được cân nhắc kỹ khi đặt tên cho một con tàu theo truyền thống Hải quân Mỹ. Trong quân sử cận đại của Mỹ có đến 10 vị Tướng mang 5 sao, riêng Hải-Quân có đến 5 nhưng chỉ riêng tên ông được chọn để đặt cho một chiếc Hàng Không Mẫu Hạm, với tên hiệu đầy đủ là USS Nimitz CVN-68. 

Ngoài ra, ông đã được 3 lần thăng cấp Đặc cách trong đời quân ngũ: không mang Trung-úy, Phó Đề-Đốc, Phó Đô-Đốc, một vinh dự hiếm hoi trong quân sử Mỹ. Sau chiến tranh, vào ngày 5-10-1945, chính phủ Mỹ tổ chức một lễ trang trọng riêng cho ông gọi là “Nimitz Day”, TT Mỹ tặng thưởng cho ông huy chương Gold Star, một trong các huy chương cao quý nhất của Mỹ với lời Tổng Thống Mỹ:
 
-“…Cho những phục vụ xuất sắc, xứng đáng trong cương vị Tư Lệnh, Hạm đội TBD và Vùng TBD, từ tháng 6-1944 tới tháng 8-1945” (…for exceptionally meritorious services as Commander in Chief, U.S. Pacific Fleet and Pacific Ocean Areas, from June 1944 to August 1945).


 
Thiếu Úy Nimitz đứng cạnh ông nội, hình chụp năm 1907.
 
Chừng đó đủ thấy ông đã được các cấp đánh giá cao qua những cống hiến cho Hải quân nói riêng, cho quân đội và cho nước Mỹ nói chung. Chiếc USS Nimitz CVN 68 có trọng tải 95 ngàn tấn với chiều dài 1,092 ft., vận hành bằng 8 máy phản ứng hạt nhân có công-suất 280.000 HP, vận tốc là 30 hải-lý/ giờ, thủy thủ đoàn có 6.300 người, chở được 90 máy bay các loại, là loại HKMH tối tân nhất thời đó. Ngoài ra, tên ông còn được đặt tên cho một số khác, sẽ được đề cập ở cuối bài. 

Là một sĩ-quan ưu-tú, nhiều năng-lực khác thường, hết lòng phục vụ cho đất nước; được một số nhà quân-sự, chính quyền gắn cho biệt-hiệu kỵ-sĩ trên biển cả và hơn nữa: con kình-ngư trong biển xanh khi ông cầm quân vùng vẫy trên chiến trường với những chiến công hiển-hách. 

Chester W. Nimitz sinh ngày 24-2-1885 tại Fredericksburg, Texas trong một gia đình công chức trung-bình, gốc di-cư từ Đức, con của ông bà Chester Bernhard và Anna Nimitz. Cha Nimitz qua đời khi ông chưa chào đời. Nimitz mang trong người dòng máu “hải hồ” khi ông nội ông, sau khi đến Mỹ đã làm nghề đánh cá, rồi làm thuyền trưởng một thuyền buồm. Đến đời cha ông, tuy làm nghề kinh doanh bất động sản nhưng vì có “máu” sông biển nên ông xây nhà mình theo hình chiếc tàu với ý niệm gởi gắm tâm tư, nỗi niềm của ông với cuộc sống theo sóng nước vào đó. 
 
 
Logo của Bộ Hải Quân Hoa Kỳ.
 
Từ thưở thiếu thời, Nimitz đã có máu “hướng về biển khơi” của ông cha nên rất mê, thán phục tấm gương của các danh tướng Hải quân, xem đó như một “kim chỉ nam” cho mình. Ước mơ của Nimitz sẽ là một quân nhân hơn là một công dân bình thường nên khi lớn lên đã quyết định xin vào các học viện quân sự. 

Ban đầu, Nimitz dự định xin vào học viện Westpoint, một Học viên Lục quân vì trường nầy không thu học phí, điều nầy hợp với hoàn cảnh gia đình không giàu có gì của cha mẹ. Khi biết học viện Westpoint đã đủ chỗ mà Học viện Hải Quân Annapolis thì còn chỗ trống, qua lời giới thiệu của Dân biểu James L. Slayden - Khu vực 12 của tiểu bang Texas - ông bèn chọn trường nầy. Ngày 9-7-1901, Nimitz tuyên thệ vào thụ huấn tại Học việc Hải Quân Annapolis. Nimitz tốt nghiệp (Passed Midshipman) hạng thứ 7 trong 114 khóa sinh vào tháng 1 năm 1905. 
 
 
Học Viện Hải Quân Annapolis

Trong niên giám của trường nầy có ghi nhận xét về Nimitz như sau: 

-“Nimitz là con người cảm thấy ngày hôm qua thì thật vui và ngày mai thì tràn trề niềm tin”. 

Còn Tổng Thống Truman, sau nầy, đánh giá như sau: 

-“Ngay từ lúc đầu tôi đã nhận thấy Tướng Nimitz là một nhà chiến lược, một nhà lãnh-đạo khác với một người bình thường. Đó là một người phi-thường, một nhân vật xuất-sắc. Tôi đặt ông ta ngang hàng với Tướng Marshall. Họ là những thiên tài quân sự và là những nhà chính trị”. 

Nimitz thăng cấp: Thiếu-úy ngày 7-01-1907; không mang cấp Trung-úy và mang Đại-úy ngày 31-01-1910, Thiếu Tá vào 29-8-1916, Trung Tá ngày 01-02-1918, Đại-tá ngày 2-6-1927, không mang Phó Đề Đốc (1 sao) do được đặc cách lên Tướng 2 sao ngày 23-6-1938, không mang cấp 3 sao (Phó Đô Đốc) do được thăng cấp trực tiếp lên 4 sao ngày 31-12-1941; 
mang 5 sao (Thủy-sư Đô-Đốc, Fleet Admiral) (1) vào ngày 19-12-1944 sau khi được Quốc Hội Mỹ phê chuẩn. 

Sau khi ra trường, ông được thuyên chuyển đến chiếc USS Ohio (BB-12) thuộc hạm đội Đại Tây Dương của Hoa Kỳ. Một thời gian sau được chuyển xuống làm việc dưới chiếc USS Baltimore C-3, một chiếc tàu ngầm. Khi nhận thấy tầm nguy hiểm khi tàu ngầm dùng xăng để chạy máy, Nimitz đề nghị với Bộ Hải quân nên dùng máy chạy bằng Diesel thay cho máy chạy bằng xăng, một đề-nghị “táo bạo” cho một quân nhân với cấp bực nhỏ và thâm niên quân vụ không bao nhiêu.

 
Đô Đốc Nimitz trên chiến hạm
 
Tuy nhiên đề nghị nầy được chấp thuận ngay và rồi Hải quân Mỹ có chiếc tàu ngầm chạy bằng dầu Diesel ra đời không lâu sau đó. Vào năm 1912, Nimitz được mời đến thuyết trình tại “Học viện Chiến tranh Hải-Quân” với danh nghĩa “một chuyên viên  tàu ngầm”, một vinh dự to lớn cho một sĩ quan không nhiều tiếng tăm như ông, nếu không có thực tài và được thượng cấp đánh giá cao cùng tin tưởng. 

Năm 1913, Nimitz được cử đi học khóa động cơ Diesel tại Nuremberg, Đức và tại Ghent, Bỉ. Cũng trong năm nầy, khi được 28 tuổi, Nimitz lập gia đình với Catherine Vance Freeman, thứ nữ của ông bà Freeman, một nhà môi giới về tàu thuyền, khi cô mới 21 tuổi.
 
Mối tình giữa hai người cũng khá ly kỳ, nên thơ. Khi còn là thuyền trưởng tàu ngầm, trong một dịp đi giám sát việc đặt máy tàu chạy bằng diesel tại một xưởng đóng tàu ở Massachusetts, Nimitz có đến nhà ông Freeman. Hai cô con gái của ông bà Freeman, Elizabeth là chị, một người con gái đẹp, cởi mở, hướng ngoại, nổi tiếng gần xa còn cô em là Catherine thì ít được biết tiếng mấy, sống khép kín. Nimitz được chủ nhà mời cơm tối, sau đó là chơi bài. Trong môn bài mà họ chọn để chơi phải có 4 người chia làm 2 cặp đấu với nhau, đáng lẽ Elizabeth là một chân nhưng cô vắng mặt nên cô em là Catherine được vào thế chân. Nimitz và Catherine vô tình được xếp vào một cặp. 

Dường như có một sự “giao cảm tâm tình” sao đó mà hai người chơi rất hợp “rơ” với nhau và thắng luôn. Trước đó, cũng giống các chàng trai độc thân khác, ai mà chẳng “mê” các cô đẹp, trong lòng Nimitz để ý cô chị Elizabeth. Tuy nhiên, sau khi chơi bài chung, Nimitz có dịp quan sát kỹ và so sánh giữa hai chị em, 
Nimitz thấy mình hợp với cô em hơn, một người con gái có tính lặng lẽ, kín đáo nhưng tâm tình sâu sắc. 

Thế nhưng trước đó, Catherine Vance Freeman lại không có cảm tình với các chàng sĩ-quan Hải quân trẻ thường xuyên ra vào nhà mình. Cô nghĩ họ đến để tán tỉnh chị mình, họ khuấy động cuộc sống bình yên của cô. Nhưng rồi vào thời gian đó, một trường hợp bất ngờ xảy ra như một “phép lạ”, đã làm thay đổi suy-tư của Catherine: Một hôm, một lính thủy rớt xuống biển. Vì không biết bơi nên sắp chết đuối. Khi đó Nimitz hiện diện, thấy vậy, Nimitz vội nhảy xuống vớt anh lính nầy lên. Vào dạo đó, một sĩ quan cấp Đại úy mà quên mình nhảy xuống nước vớt người là một chuyện họa hoằn nên  sự việc được đồn ra rộng rãi. Việc làm nầy đã “thu hút” cô Catherine và cô đã có cảm tình với Nimitz. Sau dịp đó, khi được hỏi, Nimitz đã khôi hài trả lời về hành động của mình: 

-“Đó chẳng qua là buộc phải nhảy xuống biển để bơi một vòng mà thôi”. 

Năm 1917, Nimitz sang Đại Tây Dương phục vụ trên một đội tàu ngầm dưới quyền của Robinson. Vị chỉ huy nầy rất mến Nimitz nên Robinson khuyên ông nếu muốn tiến thân trong hải nghiệp phải là “sĩ quan chỉ huy” trên chiến hạm chứ ở tàu ngầm thì “không khá được” vì trong Hải quân Mỹ lúc đó, chỉ có “sĩ quan chỉ huy” là “ngon lành” nhất còn các ngành khác đều là “bàng môn tả đạo”. Sau đó, Nimitz được thuyên chuyển đến chiếc USS South Carolina để rồi chiến hạm nầy được phái đến Đại Tây Dương khi thế chiến thứ nhất bùng nổ trong nhiệm vụ hộ tống tàu thuyền. Đến năm 1920, Nimitz được phái đến Pearl Harbor (Trân Châu Cảng-TCC) để tân trang một căn cứ tàu ngầm. Tại đây, ông đã tận dụng các phế vật còn sót lại để hoàn thành công tác giao phó khi thấy ngân sách của chính phủ eo hẹp nên quân dụng khan hiếm. Việc làm nầy đã được thượng cấp cũ là Robinson khen thưởng khi ông đến thị sát TTC, trong chức vị mới là Trợ tá Bộ trưởng Bộ Hải Quân Mỹ. 
 
 
Trong năm nầy, Nimitz được cử đi thụ huấn tại Học Viện Chiến Tranh Hải Quân. Tại đây, trong cuộc tập trận, ông đã áp dụng một chiến thuật mới mà ông nghĩ ra là chiến thuật “đội hình vòng tròn” (2) thay vì dùng đội hình “hàng ngang” hay “hàng dọc” truyền thống trước nay. Chiến thuật nầy đã được Viện trưởng Học viện, một người nổi tiếng bảo thủ, độc đoán chấp nhận một cách vui vẻ. Đây quả là một “sáng kiến thiên tài” vì so với cấp bậc, thâm niên công vụ, thời gian đảm nhiệm các chức vụ chỉ huy của Nimitz không bao nhiêu nếu so với biết bao nhiêu “vì sao sáng” trong Hải Quân Mỹ mà lại dám đề nghị áp dụng chiến thuật “ngược đời” như vậy. Sau khi tốt nghiệp, ông lại được về làm phụ tá (phó) cho “ông thầy” cũ Robinson, kiêm Phụ-tá Tham Mưu Trưởng và Sĩ quan Chiến thuật. Nimitz áp dụng ngay chiến thuật mình nghĩ ra, đưa chiếc HKMH duy nhất lúc đó của đơn vị vào đội hình chiến thuật. Chiến thuật nầy đã thành công và trở thành đội hình “tiêu chuẩn” cho “đội hình HKMH” của Hải Quân Mỹ sau nầy. 

Được thăng cấp Đề Đốc (2 sao) vào năm 1938, Nimitz được T.T. Mỹ Roosevelt thuyên chuyển về Bộ Hải Quân rồi nhậm chức “Cục trưởng Cục Hàng hải Hải quân”. Năm 1940, Roosevelt gọi ông đến Tòa Bạch Ốc dự định chỉ định ông làm Tổng Tư Lệnh Hạm đội Mỹ nhưng ông từ chối vì cấp bậc của ông “còn quá nhỏ” so với các Tướng "thâm niên" khác(3) trong Hải Quân Mỹ đương thời. 

Là một sĩ-quan ưu-tú, nhiều năng-lực khác thường cùng với tính táo bạo, Nimitz đã có những thành-tích đáng kể trong suốt đời quân-ngũ. Những ý niệm về chỉ-huy, chiến thuật, chiến-lược trong trí ông sớm manh-nha lúc chưa có chiến tranh cho đến khi cuộc chiến bắt đầu bùng nổ. Ông đã có những dự định về điều-binh, khiển tướng... trong ước mơ, nếu được thượng cấp tin tưởng và giao cho ông chức vụ quan-trọng. 

Năm 1936, trong một bức thơ cho một thượng cấp tín cẩn, ông viết: 

-“Tôi tin chắc rằng nước Mỹ sẽ đánh những trận kinh hồn với Nhật và Đức. Cuộc chiến bắt đầu với những trận đột kích tàn bạo và chúng ta sẽ bị thiệt hại lúc đầu. Khi đó, chính quyền trung ương sẽ có ác cảm với các Tướng chỉ huy trên biển tuy rằng không phải lỗi của họ và rồi họ sẽ bị cách chức. Lúc bấy giờ tôi mong mình sẽ được coi trọng và sẽ được phái ra biển”. 

Vào lúc đó, Nimitz kêu gọi chính quyền Mỹ nên tân trang và bành trướng Hải Quân vì đây là một lực lượng cơ động mà hiệu quả nhưng không được ai “để ý” đến vì lúc bấy giờ các Tướng trong Lục quân Mỹ đang “thắng thế” tại Ngũ Giác Đài và Chính phủ Mỹ; chính trường Mỹ đang bị họ chi-phối, các đề-nghị của Hải Quân đưa ra bị họ bác-bỏ ngay, không cần cứu xét. Tuy vậy, ông vẫn vững tin vào điều “Ai nắm được đại dương thì sẽ “khống chế” được tất cả", theo chủ thuyết “quyền lực trên biển” do cựu Đô-Đốc Alfred Thayor Mahan của Hải Quân Mỹ đưa ra từ cuối thế kỷ 19, đã giúp Mỹ kiểm soát được hầu như vòng quanh trái đất cho dù có nhiều vùng biển ở rất xa lục địa Hoa-Kỳ. 

Thế rồi biến cố trọng đại với thế giới nói chung và với Mỹ nói riêng đã đến. Lúc 3:00PM giờ Đông bộ Hoa Kỳ của ngày 7-12-1941, đài phát thanh New York khi đang phát bản nhạc giao hưởng, bỗng nhiên nhạc được dừng lại đột ngột, thay bằng một bản thông báo đặc biệt. Với giọng trầm buồn, xướng ngôn viên đọc bản thông-báo của Cục Thông Tin tòa Bạch-Ốc, một tin làm chấn động mọi người:
 Phi cơ Nhật bất ngờ tấn công vào Pearl Harbor và gây thiệt hại vô cùng to lớn cho Hải Quân Mỹ đồn trú tại đây”. 

Đang ngồi ở ghế khi đang nghỉ cuối tuần cùng gia đình, nghe tin nầy, Nimitz bật dậy. Vừa mặc đồ, ông vừa ra chỉ thị cho người cộng sự qua điện thoại "đến gấp Bộ Hải Quân". Tại đó, họ đã bàn bạc về tình hình và nhiệm vụ sắp đến phải làm. Cùng lúc đó, tại Tòa Bạch-Ốc và Ngũ Giác Đài, các nhân vật then chốt của hai cơ-quan đầu não của nước Mỹ cũng đã bạn bạc để có những quyết-định kịp thời. Đêm đó, sau khi nhận được lệnh của Tổng Thống Mỹ, Bộ Trưởng Bộ Hải Quân Mỹ là
Frank Knox cho phát đi “Mệnh lệnh tác-chiến số I của Hải Quân Mỹ”: Tiến hành tác chiến Không quân, Hải quân và tàu ngầm không hạn chế với Nhật bản. Bản tin phát vào thinh không, nhắm về hướng Thái Bình Dương. Đây là một mệnh lệnh “Tác chiến không giới hạn”, mệnh lệnh cao nhất trong tác chiến. 
 
 
Đô Đốc Chester W. Nimitz (trái)
 
Khuya ngày 13-12-1941, Nimitz được triệu khẩn cấp đến gặp ông Frank Knox. Câu hỏi đầu tiên của vị Bộ trưởng Bộ Hải quân Mỹ với Nimitz là: 

-“Ông có thể ra đi sớm nhất vào lúc nào?”. 

Nimitz đáp: 

-“Còn phải xem đi đâu và ở lại đó bao lâu?”. 

Frank Knox lặp lại lệnh của Tổng-Thống Franklin Roosevelt rồi đưa ra bản mệnh lệnh có chữ ký của Tổng Thống: 

-“Ra lệnh cho Nimitz đến Trân Châu Cảng và ở đó cho đến khi chiến thắng (Tell Nimitz to get the hell to Pearl Harbor and stay there until the war is won). 

Nimitz giật mình trước mệnh lệnh đột ngột nầy. Ông đã “nghĩ” đến việc nầy nhưng không ngờ quá sớm. Và sau khi được diện kiến với Tổng Thống trở về nhà, ông ngồi trầm ngâm, suy nghĩ, rồi cho vợ - khi đó còn đang bị bệnh - hay tin: 

-“Anh sắp trở thành Tư Lệnh Hạm Đội Thái Bình Dương”. 

Bà vợ ngạc nhiên: 

-“Anh vẫn luôn muốn đi Thái Bình Dương, giờ anh đã toại nguyện rồi mà!”. 

-“Đúng thế. Nhưng anh không thể không cho em hay rằng Hạm đội Thái Bình Dương bây giờ đã nằm sâu trong lòng biển xanh”. 

Rồi cảnh tượng Trân Châu Cảng càng làm Nimitz đau lòng khi ông ngồi trên máy bay nhìn thấy hôm ông đến đáo nhậm nhiệm vụ. Nhìn đây đó, xác của các chiếc chiến hạm Mỹ bị chìm, nhấp-nhô trên sóng biển: từ chiếc USS Oklahoma, USS Utah, USS Nevada, USS California, USS Virginia, USS Arizona cùng với dầu nhớt loang đầy khu vực. Cảnh tượng thật hoang tàn. 

Ông làm lễ nhậm chức trên một chiến hạm còn lại vào ngày 31-12-1941. Khi được một phóng viên hỏi: “Bây giờ ông nghĩ gì?”, Nimitz nhìn lên lá quốc-kỳ trên kỳ-đài chiến hạm, giọng đau buồn nhưng cương quyết, ông đáp: 

-“Chúng ta đã chịu một đòn công kích lớn nhưng kết cục cuối cùng, không còn nghi ngờ gì nữa: Chúng ta đã sẵn-sàng chiến-đấu để giành lấy thắng lợi sau cùng”. 

Đây là giọng điệu quyết thắng đầy tin tưởng, lạc quan và tự tin của một con người cương nghị. 

Biết bao khó khăn đến với ông khi phải tập hợp lại một lực lượng vốn đã bị mất tinh thần, tan tác về mọi mặt. Với một số ít chiến hạm không bị tổn thất và một số khác được bổ sung từ các đơn vị khác, ông hoàn-thiện-hóa lực-lượng của mình. Nimitz chia lực lượng làm 3 biên đội HKMH theo chiến thuật mà ông nghĩ ra. Ông biết rằng nhiệm vụ của ông rất trọng đại: Ngoài việc vực dậy tinh thần của quân đội Mỹ bị lung lay, ông phải hoạch định các kế hoạch, từ tố-chức đến tác chiến để trong tương lai đánh bại đối phương. Đó là một trọng trách mà ông không không thể lơ-là để có thể “đánh mất niềm tin” của thượng cấp khi họ đã tin tưởng và giao-phó cho ông. 
 
 
Phi cơ Mỹ lần đầu tiên oanh tạc trên đất Nhật trước trận hải chiến Midway.
 
Thế rồi ông đã đưa ra những quyết định táo bạo trong cương vị mới. Sau khi chấn chỉnh đơn vị, ông đã cho thi hành những quyết định đúng đắn với những trận thắng đã ghi đậm nét trong quân sử Mỹ nói chung và quân sử Hải Quân Mỹ nói riêng. 

Trước tiên là cuộc tấn công quân Nhật tại quần đảo Marshall (khoảng cách từ quần đảo Marshall đến Nhật xa hơn đến Hawaii một chút). Ngày 01-2-1942, chỉ vỏn-vẹn hai tháng sau ngày nhậm chức, ông đã ra lệnh cho các chiến đấu cơ xuất phát từ các chiến hạm Mỹ tấn công vào 3 cứ điểm của Nhật trên quần đảo Marshall và Gilbert do quân Nhật chiếm đóng trước đó và tiêu diệt hoàn toàn các cứ điểm nầy mà phía Nhật hoàn toàn không ngờ để chuẩn bị đối phó hay chống đỡ. Đây là cuộc chiến xem như có một bên: chỉ có quân Mỹ tấn công, quân Nhật chỉ đỡ đòn do hoàn-toàn không đề phòng vì tưởng rằng Hải quân Mỹ đã “hoàn toàn kiệt quệ sau trận Trân Châu Cảng” và nhất là quan quân Nhật chủ quan khinh địch . Khi kết quả được báo cáo về Hoa Thịnh Đốn, hệ thống phát thanh trên toàn nước Mỹ liên tục phát đi bản tin “chiến thắng”. Điều nầy không những làm nức lòng quân dân Mỹ quốc mà còn làm tinh thần quân đội Đồng-minh lên cao. 

Vào cuối tháng Hai năm 1942, thêm một hành-động táo bạo khác: Nimitz lại cho Không quân của Hải quân Mỹ tập-kích các căn-cứ Nhật trên đảo Oake và Manlan. Quân Nhật đồn trú tại đó đang ngủ say vì không ngờ rằng quân Mỹ dám đánh vào các đảo gần đất Nhật như vậy nên đã lơ-là việc phòng-thủ. 
Các căn-cứ trên đảo nầy trở thành biển lửa, quân trú phòng làm mồi cho bom đạn Mỹ. Phi-cơ Mỹ vùng-vẫy trên bầu trời, hoàn thành nhiệm-vụ mà không gặp sức kháng-cự, không bị thiệt hại nào đáng kể. 

Không dừng lại ở đó, Nimitz lại có hành-động táo-bạo khác khi “dám” cho phi-cơ oanh kích Tokyo, trung-tâm đầu não Nhật, nơi chỉ-huy mọi chiến trường của quân Nhật. Sở dĩ Nimitz dám làm như vậy không phải là ông liều-lĩnh mà ông đánh đòn bất ngờ vì ông biết phía Nhật chủ quan không đề phòng. Đây là lần đầu tiên phi-cơ Mỹ tấn-công vào lãnh-thổ Nhật.     
        Sáng ngày 18-4-1942, Trung-Tá James H. Doolittle dẫn đầu phi-đội North-American B-25B Mitchells gồm 16 chiếc phóng-pháo-cơ B-25, một loại phóng-pháo-cơ hạng trung, cất cánh từ HKMH USS Hornet (cùng với USS Entreprise CVN 65) (4) đang ở cách Tokyo đến 668 hải-lý, trên đường hướng về đất Nhật, bay đến mục-tiêu. HKMH USS Hornet cùng với HKMH USS Entreprise CVN 65 khi đó đang cùng hoạt động chung một khu vực. 

Để đánh lừa, làm phân-tán sự chú-ý của Nhật, Đô Đốc Nimitz ra lệnh ba chiếc trong số phi-cơ đó bay đến 3 thành-phố khác trên đất Nhật là Osaka, Yokohama và Kyoto. 13 chiếc còn lại do Trung-Tá James Doolittle chỉ-huy trực chỉ thủ đô Tokyo. Trong sự bất ngờ, các phi-cơ Mỹ đã trút hàng trăm tấn bom đạn xuống “trái tim” của Nhật rồi ung-dung trở về mà lực lượng phòng vệ Tokyo không kịp có phản ứng. Cuộc tấn công nầy tạo nên bất ngơ lớn cho quân, dân Nhật và là một ngạc-nhiên lớn cho cả thế-giới, gieo nỗi kinh hoàng đầu tiên cho dân chúng Nhật. Đây là “đòn bất ngờ” chưa từng có cho Nhật, cũng là niềm kiêu-hãnh cho quân-đội Mỹ, là tấm gương can-đảm, táo-bạo cho quân-lực các nước, dù bạn hay thù. Đây không là hành động “phiêu lưu, mạo hiểm” mà là một quyết định đúng đắn, dựa trên tính bất ngờ, khả thi có tính toán . 

Thêm một đòn khác nữa được Nimitz dùng để đánh vào quân đội Nhật. Vào ngày 2-5-1942, Thủy-quân Lục-chiến Nhật đổ bộ lên đảo Turachi mà không gặp kháng cự nào. Hai hôm sau, trong khi quân Nhật đang ăn mừng thắng lợi thì phi-cơ Mỹ xuất phát từ HKMH Yorktown bay đến oanh-kích dữ dội. Quân Nhật bị thiệt-hại nặng-nề: ngoài số đông quân trú phòng thương vong còn có 2 tàu vận tải, 2 tuần-dương-hạm, 1 khu-trục-hạm chạy bảo vệ đảo bị đánh chìm và một số khác bị hư hại nặng. 

Sau các cuộc tấn-công bất ngờ chớp nhoáng nói trên vào quân Nhật của Hải-quân Mỹ, các tướng lãnh và các chiến-lược-gia hai bên đã dốc tâm nghiên-cứu chiến-thuật, chiến-lược mới cho phù-hợp với tình thế. Đô Đốc Nimitz cho rằng Nhật chưa bị thiệt hại chiếc HKMH nào, phải tìm cách diệt bớt tàu chiến Nhật, các mối nguy cho hạm đội Mỹ. Nimitz chỉ thị 2 HKMH Yorktown và Lexington lặng lẽ theo-dõi hạm-đội Nhật. 
 
 
Hình chụp sau khi Nimitz rời quân ngũ
 
Trong khi HKMH Tường-Phong, một trong các HKMH chủ-lực của Nhật đang tuần-tiễu trên biển thì bất ngờ bị phi-cơ Mỹ tấn-công dữ-dội, hạm trưởng ra lệnh cho phi-cơ lên nghênh chiến vì họ không phát giác trước được tàu Mỹ. Khi đó, 2 HKMH của Mỹ là USS Yorktown và USS Lexington lại xuất hiện và các phi-cơ trên đó bay lên “làm thịt” chiếc Tường-Phong. Sau 20 phút chiến-đấu trong tuyệt vọng, HKMH Tường-Phong đã đi vào l

Thanh Ha
Theo: rfi vietnamese
Lên đầu trang