Thứ Năm - ngày 20/6/2013 - 06:06:06

Chiều Tưởng Niệm, Chúa Nhật ngày 30 tháng 6 năm 2013

Văn Thơ Lạc Việt trân trọng kính mời quí vị tham dự chiều thơ nhạc, tưởng niệm những vị nhà văn, thơ cố vấn và thành viên đã qua đời năm 2012. Nhà thơ Hà Thượng Nhân, Bình luận gia Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh, Nữ sĩ Trùng Quang, và nhà thơ Hà Ly Mạc. Tại trường Trung Học Yerba Buera. 1855 Lucretia. San Jose, CA 95122. Thời gian 1:30 PM chiều Chúa Nhật ngày 30 tháng 6 năm 2013.

Nguyễn Vạn Bình : Mẹ Tôi

Ngày Hiền Mẫu hay Ngày Của Mẹ (tiếng Anh: Mother's Day) được tổ chức hằng năm vào ngày Chủ Nhật thứ nhì của tháng 5. Năm nay -2013- là năm đầu tiên, anh em chúng tôi cùng nhau thực hiện Slideshow “MẸ TÔI”, coi như Bó Hoa dâng kính các Đấng Sinh Thành.

May 12, 2013 ngày nhớ mẹ : MẸ ƠI...!

Những bài thơ về Mẹ trích từ tuyển tập : Lời Tình Buồn, Nỗi Đau Dài, Khắc Khoải, Bơ Vơ, Đôi Mắt.

Những vần thơ tháng Tư

Năm tháng vẫn trôi qua
Không quên được một ngày
Ba mươi Tháng Tư Đen
Bảy lăm năm ghi nhớ

Những tác phẩm nhiếp ảnh của nhà thơ Hương Kiều Loan

Nhân trong một diễn đàn, có người quen post lên một hình hoa Mãn Đỉnh Hồng, cũng còn có tên là Mạc Đỉnh Hồng nữa, tôi chợt nhớ ra mấy bức ảnh đã chụp loại hoa này năm trước trong Botanica Garden của KS, nơi tôi thường đi...săn...hoa....

Sơ lược về Văn Thơ Lạc Việt và lời cám ơn.

Như quí vị đã biết Văn Thơ Lạc Việt là hội đã có chiều dài hoạt động trong thời gian hơn 20 năm bắt đầu với năm vị nhà văn, nhà thơ :Hà Thượng Nhân, Chu Toàn Chung, Hoàng Anh Tuấn, Thượng Quân, và Dương Huệ Anh. Tôi là người tiếp sau cựu chủ tịch nhà thơ Đông Anh, ông bây giờ là cố vấn trực tiếp cho Văn Thơ Lạc Việt.

Tháng Ba, Ngày giỗ em.

Tháng Ba ta lại ... giỗ em
Lòng rưng rưng khóc giọt mềm lá rơi
Tháng Ba nguyệt vọng lưng trời
Hồn hoang gió hú chơi vơi đại ngàn
Tháng Ba em chết vội vàng

Hoa Kỳ tiết lộ vụ Hoàng Sa

Chính phủ Hoa Kỳ đã cho tiết lộ hai tài liệu mật liên quan đến quan điểm của Hoa Kỳ về Hoàng Sa và Trường Sa, đó là biên bản hai cuộc họp về vấn đề Ðông Dương ngày 25/1/1974 và ngày 31/1/1974 do ngoại trưởng Henry Kissinger chủ trì.

Những vần thơ tháng tư

AUDIO: ĐẠI TÁ VIỆT CỘNG ĐÀO VĂN NGHỆ TIẾT LỘ NHIỀU CHUYỆN ĐỘNG TRỜI VỀ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (Mời nghe chớ bỏ qua).

Những bài thơ Tháng Tư

Kính chào Qúy Văn Thi Hữu.
Hôm nay vào tháng Tư, Nhớ lại tháng Tư năm 1975, lúc đó qúy vị đang làm gì và ở đâu? Khi nhớ lại chắc qúy vị cũng ghi lại những hình ảnh, những kỷ niệm bằng những vần thơ.
Xin qúy vị gửi về trang Thơ Tháng Tư này để chia xẻ kỷ niệm cho các bạn thơ khác cùng đọc, cùng chia xẻ nỗi quan hoài.

Dân Làm Báo : Ghê Sợ Trong Cung Đình Vẹm: Phạm Gia Liên – Bà “hoàng” không ngai

Trong lịch sử đã có nhiều tấm gương xấu về việc các bà vợ lộng hành, lộng quyền, kể cả vợ vua. Vua để vợ lộng quyền thì mất nước. Hiện tại ở Bộ Công An Việt Nam có bà Phạm Gia Liên – con gái của Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm và là vợ của ông Thượng tướng Nguyễn Khánh Toàn, Thứ trưởng Bộ Công An là một người đàn bà lộng ngôn, lộng quyền và lộng hành.

Boxitvn.net : 31 Tướng, Cán Bộ Lão Niên Đòi Nguyễn Tấn Dũng Từ Chức

Kiến nghị quy lỗi cho Nguyễn Tấn Dũng bao bọc cho Phạm Thanh Bình để Vinashin đốt tiền, trích:
“Ban kiểm tra đã nêu Phạm thanh Bình lộng quyền, dối trá, làm nhiều việc sai trái, làm thất thoát đến 86.000 nghìn tỷ đồng của nhà nước thì đã rõ. Theo chúng tôi Bình phải bị truy tố và xử lý theo pháp luật. Nhưng Phạm thanh Bình mới chỉ là tội phạm trực tiếp, chính Thủ tướng Nguyễn tấn Dũng

10 ngàn bản nhạc trước 1975

10 ngàn bản nhạc hay trong music album.
Mời nghe ... mệt xỉu . Tỉnh dậy nghe tiếp

Chuẩn bị nhân sự Đại hội Đảng lần thứ 11 trong căng thẳng

Trong những ngày sắp tới, dư luận có thể tiên đoán một liên minh giữa thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong chính phủ và đại tướng Phùng Quang Thanh trong quân đội để nắm quyền lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam trong đại hội đại biểu toàn quốc sắp tới.
Nguyễn Văn Huy

Tình hình Việt Nam căng thẳng với Trung Quốc

Ngày hôm nay 18 tháng 8, phía Trung Quốc đã bắt đầu động binh mở ra các cuộc tập dợt phòng không chống "máy bay địch" những hình ảnh nầy đã được công khai phổ biến trên mạng Quân Đội Nhân Dân Trung Quốc. Như vậy chúng ta thấy cả hai phía CSVN và CSTQ đang chuẩn bị cho một cuộc chiến có thể xảy ra

Phung Huynh : Phát hiện Người Heo ở trên núi thị trấn Shin Ma huyện Đinh Giang tỉnh Vân Nam -TQ

Phát hiện Người Heo ở trên núi thị trấn Shin Ma huyện Đinh Giang tỉnh Vân Nam -TQ KHỦNG KHIẾP QUÁ !
Không có chuyện không kỳ quái trên the gioi, ngày 10 tháng 03 năm 2010 có một ông cụ tên là Thạch Lão Nhị, là người hái thuốc tại khu rừng núi ờ thị trấn Shin Ma phát hiện ra một đàn người heo.

TIÊN TRI VŨ TRỤ TRẦN DẦN TIÊN ĐOÁN VIỆT NAM SẼ THAY ĐỔI RẤT NHANH ÍT ĐỔ MÁU,

"Nhà Tiên Tri Vũ Trụ" và xưng là "Sứ Giả của God & Jesus" có tên thật là TRẦN DẦN, sinh ngày 24-02-1950 Dương Lịch lúc 5:00 giờ sáng, tức đúng giữa Giờ DẦN, Ngày DẦN, Tháng DẦN, Năm CANH DẦN (Giờ Dần (4:00AM - 6:00AM), ngày 06 tháng Giêng năm Canh Dần). Ông tên là Dần và ngày tháng năm sinh, giờ sinh của ông đều là Dần cả nên ông có tới “Ngũ Hổ” (5 con Cọp).

Vợ của LM Phan Khắc Từ tuyên bố

Được hỏi về vụ Đức Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt bị tống xuất ra nước ngoài...Bà Tư Liên úp mở: " Những ai chống lại Đảng, chống lại nhân dân thì đều có chung một số phận như thế "
( Bản tin của một Giáo dân, Giáo xứ Vườn Xoài gửi cho Điện báo http://www.haingoai phiemdam. com/

35 Năm Mở Mang Bờ Cõi

Last Fourth of July at Mass I was touched firsthand by the patriotism and gratitude of these people. That day an elderly Vietnamese grandfather with his three grandsons sat next to me. Each wore a red tie, white shirt and blue pants. They were proud to be Americans.Thank you, God bless you, we appreciate you.

Hồ Sơ Tội Ác Của Hồ Chí Minh Và Đảng Cộng Sản Việt Nam

Sau ngày cưỡng chiếm hoàn toàn miền nam năm 1975, Bộ Chính Trị Ban Chấp Hành Trung Ương đảng cộng sản Việt nam ra sức tuyên truyền các địa phương xóa bỏ hết mọi dấu vết tội ác của cộng sản đối với đồng bào và quân cán chính Việt nam cộng hòa, như phá hủy các nghĩa trang quân đội của miền nam, giải tỏa toàn bộ khu nghĩa trang Ba đồn cùng Đài

Flash Ebooks

Kellynguyen

Cẩm Vân

thằng mõ

Long Nguyen

Ý Dân

Tin Việt News

Phu Nu Cali

Việt Dương Nhân

Tu Do Ngon Luan

Vườn Tao Ngộ

NS Pham Manh Dat

Mạnh Thường Quân

Jennysbeauty

Văn Thơ Lạc Việt

Lại Nguyên Ân: Phan Khôi, sưu tầm và giới thiệu.

Chuyên mục: VănCập nhật 3 năm trước

FavoritesThích nội dung nàyFeedbackPhản hồiPrintIn nội dung

Nhắc đến Phan Khôi, người ta thường nói đến tính cách “Quảng Nam hay cãi” biểu lộ cực kỳ rõ rệt nơi con người ông. Song nét đặc trưng riêng biệt của “tính cách Phan Khôi” lại là nét này: ông hầu như không thể nói dối, không biết nói dối. Có khá nhiều người mang tính cách “hay cãi” của người xứ Quảng, nhưng họ vẫn không đủ bản lĩnh để có thể thật thà như Phan Khôi.

Lại Nguyên Ân sưu tầm và giới thiệu.

 

Phan Khôi (1887 – 1959) là một trong những gương mặt lớn của làng văn, làng báo Việt Nam thế kỷ XX. Ông đã từng sống, làm báo làm văn ở những trung tâm văn hóa lớn nhất trong nước như Sài Gòn, Hà Nội, Huế.

 

Nhắc đến Phan Khôi, người ta thường nói đến tính cách “Quảng Nam hay cãi” biểu lộ cực kỳ rõ rệt nơi con người ông. Song nét đặc trưng riêng biệt của “tính cách Phan Khôi” lại là nét này: ông hầu như không thể nói dối, không biết nói dối. Có khá nhiều người mang tính cách “hay cãi” của người xứ Quảng, nhưng họ vẫn không đủ bản lĩnh để có thể thật thà như Phan Khôi. Sự trung thực trong tính cách Phan Khôi có thể khiến ông gặp bất lợi trong những cảnh ngộ nhất định, song rốt cuộc, đây vẫn tỏ rõ là một tính cách hay. Chẳng hạn, ở đoạn tự truyện của Phan Khôi mà tôi mới tìm thấy và giới thiệu lại dưới đây, chính là tính cách trung thực đã khiến Phan Khôi có thể nói thật về phương diện sinh hoạt cá nhân thường ngày của mình, điều mà nhiều người thường tìm cách che đậy hoặc lảng tránh.  

 

Xin giới thiệu với bạn đọc đoạn tự truyện này; nhân 50 năm ngày ông mất, chúng ta đọc để nhớ tới Phan Khôi

L.N.Â.

-----

 

ÍT NHIỀU “LÃNG MẠN”

Tự truyện của Phan Khôi

 

Tôi toan viết ra những chuyện dưới đây mà lấy làm lúng túng về cái đầu đề. Nhân nhớ lại khoảng năm 1932 ở Sài Gòn, một hôm vào lúc chín giờ tối, tôi đến một khách sạn tây ở đường phố Catinat thăm một ông bạn cũ ở Bắc mới vào, bắt tay nhau, ông ấy nhìn tôi, vừa cười vừa nói cùng tôi bằng cái giọng đùa bỡn thân mật rằng: “A, huynh ông! Biệt nhau thế mà đã sáu, bảy năm rồi! Xem ra huynh ông không được đẫy bằng hồi ở Hà Nội. Thảo nào người ta nói “ngài” ở đây sanh hoạt một cách lãng mạn lắm thì phải!”

 

Với câu ấy, bấy giờ tôi cũng cười xề xề như chẳng quan tâm đến rồi bắt sang chuyện khác; nhưng khi về đến nhà, nằm một mình, tôi đâm ra nghĩ ngợi.

 

Ông ấy nói mình sanh hoạt lãng mạn, lãng mạn là nghĩa thế nào? Romantique chăng? Chỉ về sanh hoạt kia mà, hẳn là không phải. Nhằm rồi, đây người ta muốn bới sự chơi bời phóng đãng của mình mà người ta không nỡ nói trắng ra, nên dùng cái danh từ “lãng mạn” chớ gì?

 

Nhớ lại mẩu chuyện ấy rồi, tôi không còn phải lúng túng nữa mà lấy ngay hai chữ “lãng mạn” làm đầu đề cho bài nầy. Vả lại cái đời của tôi cũng không phải lãng mạn suốt cả đời; muốn nói cho đúng, đừng bớt mà cũng đừng thêm, tôi phải hạn chế bằng hai chữ “ít nhiều” ở trên nó.

 

***

 

Tôi sanh ra trong một gia đình mà ở đó có cho đến hai cái gương cho tôi về sự “sống ở đời”. Hai cái gương, mỗi cái lại là một cực đoan. Tôi là người trực tiếp chịu ảnh hưởng cả hai thì bảo sao cái thái độ sống của tôi chẳng có khi thay đổi, đương là chiều này day qua chiều khác? Hai cái gương và hai cái cực đoan ấy, một là cha tôi, một là ông tôi.

 

Cha tôi, một kiếp người là một sự cẩn thận. Sau khi đậu phó bảng, làm thuộc viên ở Kinh vài năm, đi ra làm tri phủ một năm rồi cáo xin về, ở nhà cho đến chết. Thấy nói thôi không làm quan nữa là tại sợ mà không dám làm, chứ không có ý gì khác. Người chẳng có cái thị hiếu gì ngoài sự đọc sách. Không cần phải nói không uống rượu, không đánh bạc… Đến vợ, năm 39 tuổi, đứt dây đờn lần thứ hai, người ở vậy cho tới 73 tuổi thì xuống mồ.

 

Ông tôi sanh vào đời Minh Mạng, đậu hồi Thiệu Trị, làm quan hồi Tự Đức, mất hồi Thành Thái, nghĩa là đã “hạ lớp” rồi, cha tôi mới “ra”, cho nên cái sự khác nhau của hai người cũng có lẽ là vì hoàn cảnh.

 

Nghe kẻ lớn kể chuyện lại thì ông tôi trong thời trai trẻ thật đã đủ điều. Giỏi cả nghề côn quyền nữa. Vào giữa thưở thuốc bị cấm nghiêm lắm, mà nửa đêm, tại nhà cô Án Đạt, hoa khôi đất Kinh đô buổi ấy, người đã lấy sức một mình đánh để thoát thân với năm mươi lính trấn phủ, chúng đến vây nhà mượn cớ bắt “ngật yên” mà thực ra thì để hạ kẻ tình địch của ông quan trên mình.

 

Tôi lớn lên thì thấy ông tôi mỗi ngày uống chè tàu hai bận: sớm mai và chiều. Chè ô-long, ve độc ẩm, pha theo một phương pháp; tôi phải có học qua mấy bận, sau mới pha hầu ông tôi được. Cơm thì ăn ba bữa, thỉnh thoảng có uống rượu, uống vào bữa trưa. Độ một tháng hay nửa tháng, gọi người mang “bàn đèn” đến, hút chừng mấy điếu vào buổi tối.

 

Ông tôi có ghiền mất ba năm hồi ở Thái Nguyên. Nhưng khi định về hưu, xuống Hà Nội uống thuốc cai rồi mới về, bấy giờ người vừa sáu mươi tuổi.

 

Tôi có lần bưng tráp đi hầu ông tôi tới chơi một nhà quen thân trong làng. Tưởng chơi gì, té ra là đánh me: người cùng dăm ba ông nữa ngồi vây lấy một chú khách hốt cái.

 

Những chuyện tôi kể đó, tôi thấy vào hồi ông tôi 75 tuổi cho tới 80. Đến năm 84 tuổi người qua đời.

 

Kể cả thê và thiếp, ông tôi già lại, còn bốn bà cả thảy. Cô con gái út sanh vào năm ông tôi 65 tuổi, do bà thứ tư.

 

Chỉ bấy nhiêu đó đã thấy ông tôi là người khoáng đạt, không câu kiễm, thái độ khác hẳn với cha tôi. Tuy vậy ông tôi lại là người cương trực, công bình, cần kiệm và nhứt là có trật tự: giữa xã hội An Nam , tôi chưa hề thấy có người thứ hai đủ các đức tánh tốt ấy tuy đến nay tôi đã ngoài năm mươi tuổi.

 

Có lẽ bởi tôi ở gần cha nhiều hơn, nên thưở thanh niên tôi đã ăn ở theo khuôn rập của người. Năm 16 tuổi, tôi có bị khủng hoảng về tinh thần mất một độ, chỉ một độ thôi, tôi lại được kéo trở vào khuôn.

 

Sau tôi tu tỉnh lấy mình thì cơn khủng hoảng nầy đã gieo giống ở tôi từ hai năm trước. Bấy giờ chúng tôi đang sùng sục đọc sử Tấn ở trường học, thấy trong đó có những tay danh sĩ khoáng đạt như Trúc Lâm thất hiền thì đem lòng hâm mộ. Hai năm sau, học trường khác, nhưng lại gặp bạn cũ, trong đó có một anh lớn tuổi hơn tôi, là kẻ đứng đầu sự hâm mộ năm trên. Anh ấy giảng cho chúng tôi nghe: cuộc đời là vô vị cả, muốn cho hữu vị, chỉ có rượu và thơ. Rồi rủ nhau thực hành: uống rượu và ngâm thơ. Thơ toàn là bố láo chẳng ra câu kẹo gì, mà rượu thì có một đêm đã làm tôi say bất tỉnh. Hay được, ở nhà gọi về mắng cho một trận, từ đó tôi hối ngộ không hề tái phạm cho đến bốn năm sau.

 

Năm 20 tuổi đi thi khoa bính ngọ Thành Thái năm thứ 18, hôm xem bảng và phúc hạch, thấy không có tên, tôi mua rượu uống một mình. Uống đến nỗi từ trường thi trở về, đi ngang qua cửa Ngọ Môn mà không nhìn thấy, như có nói trong một bài tự truyện trước.

 

Đậu tú tài về ở nhà cho đến đầu năm 1908 đi Hà Nội, cả cái thời gian ấy thật tôi đã dẫn mình đi trong con đường rất có quy củ. Không phải nói quá, lúc đó tôi có ý lấy một thân kiêm cả hào kiệt và thánh hiền.

 

Qua đầu năm sau, tôi cũng còn chưa đổi ý và cứ răn can các bạn cọng nạn vì giải buồn đi theo những thú yên hoa trà tửu.

Song chẳng bao lâu, không biết có vì một cớ gì đó hay không vì cớ gì cả, tôi đâm ra chơi bời còn hơn các bạn của tôi. Tôi cùng hai “đồng chí” nhờ đó, bê tha đủ đường. Tôi uống rượu đã nổi tiếng là vô địch. Có một lần say từ chiều hôm nay đến chiều hôm sau mới tỉnh. Lúc tỉnh, tôi nghĩ chỉ còn có một nước tự tử, vì xấu hổ quá, không thể mở mắt trông thấy ai nữa. Nhưng, để cho khỏi chết, tôi trùm mền phủ đầu nằm luôn một đêm một ngày nữa mới dậy. Trong lúc đó, tôi tự lập luật cho mình rằng từ nay về sau, uống mấy thì uống nhưng đừng say.

 

Nói tóm lại, ở tù ba năm mà non hai năm sau là cái thời gian tôi chơi bốc trời. Đến nỗi cha tôi viết thơ cho tôi thốt ra những lời tuyệt vọng: “Thành gia chi tử vị sanh, phá gia chi tử dĩ chí”, cùng là “Lập thân nhứt bại vạn sự ngõa giải”. Thế mà lạ, năm 25 tuổi tôi được thả về một cái là trở nên ngoan ngoãn: chịu mang cái xác bằng báu triệu đi ngồi lớp nhì ở trường Thầy Dòng Huế.

 

Có vợ có con rồi tôi cũng còn dốc lòng ăn ở theo gương cha tôi. Năm 1918 ở Hà Nội làm trợ bút tạp chí Nam phong mỗi tháng 30 đồng bạc mà tôi cũng thừa tiền gửi về nhà, dầu chẳng được mấy nỗi.   

 

Năm sau, ở Sài Gòn nửa năm như một cô trinh nữ, tôi chẳng hề biết cái thành phố ấy có những nơi tiêu khiển nào. Rồi trở ra Hà Nội ở cho đến cuối năm 1925, khoảng nầy kiếm khá tiền hơn trước, tôi có gởi về mua được ít ruộng.

 

Từ 1920 đến 1925 ở Hà Nội, tuy vẫn đứng đắn nhưng tôi cũng có “mở mang” hơn xưa. Lâu lâu rủ anh em đi hút một vài điếu (chữ quelques pipes là chữ tôi bày ra mà ngày nay ở Hà Nội đang lưu hành) và tập đánh trống nhà trò. Còn sự đi chơi vì cần dùng như lần đi với ông Tản Đà có nói trong bài kỷ niệm ông ấy thì tôi coi là sự thường, không kể.

 

Hết thảy cái mùi lãng mạn (đây tôi bắt đầu dùng chữ lãng mạn theo nghĩa riêng nó như trên) tôi cho chỉ có hát nhà trò là thú nhứt, mà thú là vì cái đánh trống. Cho nên tôi đi hát là để nghe hát và đánh trống chớ không vì cô đào. Tôi đánh trống không là hay, vì nghe đàn chưa thạo lắm, nhưng tự thấy tiếng trống của mình có một vẻ riêng, cũng như chữ viết của tôi không là tốt mà có một vẻ riêng, tôi không muốn bỏ đi mà theo ai cả dầu họ hơn tôi mấy cũng mặc.   

 

Về nha phiến, đầu năm 1926 tôi 40 tuổi, quyết định không chơi với nó nữa. Vì nghĩ rằng lúc còn trẻ, sức mạnh, đủ mà kình lại nó, tuy hút không sợ ghiền, nhưng đến có tuổi rồi phải tuyệt đi. Vì vậy, có một dạo lâu lắm, ở Sài Gòn, cùng anh em nằm nói chuyện quanh bàn đèn cả đêm mà tôi không hề.

 

Người ta đến lúc đổ đốn, chơi hoang toàng, thì hay kiếm cái cớ để nấp mình dưới nó mà chống lại vật nghị. Trong sách, khi phê bình các danh sĩ say sưa đời xưa, nhiều người hay nói: “Tiên sanh chi ý bất tại tửu”, hay là: “Hữu sở thác nhi đào”, cùng một ý ấy. Thế thì tôi, trong khi đổi ý, từ cái nhân sanh quan nầy bước qua cái nhân sanh quan khác cũng dùng cái ngón ấy chăng? Việc của tôi, tôi không sao biết được. Tôi chỉ thuật mà không để lời phán đoán.

 

Vào khoảng 1930 – 1931, tôi thả theo sự tự do của thị dục, không gìn giữ gì nữa, nhứt là với nha phiến. Lúc đó tôi ở Sài Gòn, viết một lúc ba tờ báo, thường không có giờ rảnh, hễ rảnh là đi giết thì giờ, không chịu luận đêm ngày.

 

Từ tôi ở ngoài lâu, tôi năng nhớ tới ông tôi. Một lần đi ngang Nha Trang, tôi phải ở lại mấy hôm để đi đến tỉnh thành Khánh Hòa vào thăm dinh Án sát là nơi ông tôi từng ở bảy, tám mươi năm về trước. Ông tôi có một bức di dong chụp trước khi mất một năm đến bấy giờ lu lờ cả, tôi đem thuê ông Đặng Văn Ký ở Đa Kao vẽ lại giống y như hệt. Bức vẽ ấy thường treo ở trên chỗ tôi ngồi viết, khi viết cạn từ, vừa nhìn lên vừa nghĩ.

 

Tôi thấy sống như cái đời ông tôi mới là sống. Từ đó, trên triết học, tôi cẩn thận ở sự định nghĩa ba chữ “nhân sanh quan” và phân biệt nhứt ở chỗ: nhân sanh quan không phải là nhân tử quan. Theo cái chủ nghĩa cấm dục là làm cho con người ta chết đi, chứ không nói được là sống, dầu còn có cử động.

 

Khổng Tử đến năm 70 tuổi thì “tòng tâm sở dục bất du củ” nghĩa là “theo chỗ muốn của lòng, chẳng vượt ra ngoài khuôn phép”. Lại, về sự uống rượu, ngài không có hạn lượng, không nhứt định uống mấy chung có chừng, cứ giữ cho không say đến bậy bạ là được (Duy tửu vô lượng bất cập loạn). Hiệp hai điều đó lại, tôi thấy ra Khổng Tử giá đời ngài đã có thuốc phiện thì ngài hoặc cũng có hút, miễn chẳng đến ghiền hay ghiền mà chẳng đến làm hư thân danh mình cùng để lụy cho vợ con.

 

Xin ai đọc tôi chớ hiểu lầm cái đoạn tôi mới vừa nói đó. Tôi không có ý dùng ngụy biện để kéo một bậc đại thánh vào với tôi trong cái chỗ mà người ta kêu bằng “trụy lạc”. Tôi chỉ muốn nói người ta ở đời, đời có cái gì, hưởng thọ cái ấy thì sự sống có đầy đủ hơn là cái gì cũng không dám hưởng thọ.

 

Năm 45 tuổi tôi “thiệt thọ”. Sau hơn một năm, tôi bỗng bỏ không hút trong tám tháng. Bấy giờ cha tôi thấy vậy, hình như cũng có tin rằng tôi vẫn đủ sức buông bắt thuốc phiện như ông tôi. Thật ra thì trong tám tháng ấy tôi không có việc làm; thất nghiệp chơi với “nàng” thì bất tiện lắm. Chứ khi ra Hà Nội có việc làm rồi, tôi lại chơi.

 

Ai đã mắc vào thú nầy rồi thì thường là chừa các thú khác. Nhưng tôi hơi tham hơn họ một chút. Lần ở Hà Nội nầy, tôi đi nhà trò nhiều hơn cả mấy lần trước, rốt lại đến lấy một cô làm vợ nhỏ, bây giờ vẫn còn ở với tôi đẻ được đứa con trai. Có lẽ đó là cái kết quả và cũng là cái kết luận của cuộc sanh hoạt lãng mạn của tôi vậy.

 

Từ năm mươi tuổi đến nay tôi không còn lãng mạn nữa, dầu còn có sức cũng không, vì nghĩ phải để phần mọi sự đời cho kẻ khác. Nói thế hình như hiện nay tôi lại bỏ thuốc phiện rồi. Không, không phải thế, thứ đó bây giờ đã là một sự cần hằng ngày cho tôi; không còn chơi gì nữa nên không thể kể là lãng mạn được.

 

Thuốc phiện gần nay lên giá, nhiều người làm ra không đủ hút. Trong anh em có người khuyên tôi cũng nên bỏ đi. Mỗi khi đáp lại lời khuyên ấy, tôi nói rằng: “Bảo tôi bỏ à? Thế thì trước kia tôi hút làm gì?” – Lời ấy thật quả là lời của kẻ tự bạo tự khí nếu nó lọt vào tai ông nào như ông Mạnh Tử. Nhưng riêng với tôi, nó là chơn lý, “chơn” đến trăm phần trăm.

 

Tôi nghĩ cái đời của tôi sống để làm gì? Chẳng phải đến bây giờ mà từ trước đến nay tôi sống để làm gì? Viết báo ư? Ngôn luận ư? Trứ thuật ư? Thì cứ hút đi rồi mà viết, mà ngôn luận, mà trứ thuật; cái nầy nó chẳng hề phương hại đến cái kia thì việc gì mà phải bỏ? Còn về tiền bạc, theo tôi, cái đó chẳng thành vấn đề.

 

Cho đi rằng tôi bây giờ không còn là người ghiền đi, lại cho đi rằng từ trước đến nay tôi không hề là người ghiền nữa, thì tôi cũng chỉ là một anh viết báo, một nhà ngôn luận, một tay trứ thuật mà là An Nam tất cả, tôi có hơn gì là tôi đâu?

Có, tôi có khỏi mang tiếng ghiền, nhưng tôi có ích gì cho ai đâu? Thế thì bảo tôi bỏ nó làm gì?

 

***

 

Nói vậy thì nói, chứ đối với cái thái độ ở đời của hai người, cũng không phải tôi cho ông tôi là phải, cha tôi là trái. Chẳng qua sau bao nhiêu lâu nhìn rõ thế sự, tôi thích cái nầy hơn mà chọn lấy và không thích cái kia mà bỏ đi, thế thôi. Nhưng thế nào mặc dầu, cái sự sống bao hàm của ông tôi, tôi vẫn coi như biển, thì cái sự sống cô cao của cha tôi, tôi cũng coi như núi vậy.

 

Người ta phải có tu dưỡng hồi bình nhựt thế nào để cho đến khi cái thái độ mình tỏ ra, hoặc là bao hàm, hoặc là cô cao, đều không phải bởi cố ý. Một có sự cố ý thì phải thành ra giả dối, thậm chí mình giả dối lấy mình: con người ấy mới thật là “trụy lạc”. Tôi sợ cho cái trụy lạc ấy lắm. Chứ còn ghiền á phiện hay mê cô đào mà bị người ta gia cho cái tiếng “trụy lạc” thì tôi không sợ. Không sợ mặc tôi, cái tiếng ấy thế nào cũng không khỏi.

 

Cái đêm trước khi tôi đi Sài Gòn chuyến nầy, vợ tôi nằm một mình nói cằn rằn: “Nói chơi thì chơi, không mắc cái gì hết, mà rồi cái gì cũng mắc hết!”  Tôi nghe mà làm thinh. Tôi biết bà nó (vợ tôi có cháu nội cháu ngoại rồi) nói thế là nói tôi chứ nói ai? 

 

                                                                                                PHAN KHÔI

Dân báo, Sài Gòn, số Tết Nhâm ngọ 1942

 

Lại Nguyên Ân
Theo: Diễn Đàn Net